Hôm nay:

Tài chính doanh nghiệp

Tin cập nhật

11 tháng 12, 2007

Author comment highlighting and notification!

After a break of a week or two, I am back again. I now have some hacks for the comments section - a hack to highlight your comments as the blog author and another to notify your readers when you respond to their comment. You might have noticed that my comments are displayed in red here in my blog and that's what I mean by "highlighting". I believe it helps my readers to identify my response to their questions amidst a long list of comments. Some of my readers asked me how to do this in their blog and here I am sharing what I did.

Author comment notification is another hack that I did for the old Blogger. When somebody posts a question/comment in your blog and you respond to him, the commenter may not see the response unless he checks your blog a few times. If (s)he landed in your blog through blog search or Blogger's next blog chain, (s)he may not even remember your blog's URL. Sometimes, you type a long response and it goes into blackhole. With this notification, you can send an automated email message to the commenter with just one click. This message will contain your name, your post’s title and its permanent link so that the commenter can easily come back and see your response. This hack is actually a service hosted in my website bvibes.com. [Please note that notification can be sent only to those who have shared their email address in their Blogger profile.]

Now, for the code changes. First find this class called comment-body, copy it to define another class comment-body-author and modify it for the way your comments should look like. For example, here I have set the color to what I want and made it bold.

Then, search for "id ='comments-block'" in your template to identify the portion of code in this page and add the new code shown in red and blue. The red one is for author comment highlighting and the blue one is for comment notification.

After you make those changes, goto any post page with comments and you will see the an image after every comment (NOT in the comments page where you type comments). As you can see in this example, there's an image below Richard's comment.

Once I respond to Richard, if I click that image, an email similar to the following one will be sent to the email address in his profile. [If the person has not shared an email address, no email will be sent.]

Subject: Response to your comment has been posted
"Ramani has responded to your comment on Peekaboo posts improved again. Please click this link to see the response."

As a security feature, this image will be shown ONLY when the blog author is logged into Blogger. Visitors to your blog won't see this image and so they won't be able to use this feature. Also, be judicious in using this service (if you send emails for trivial responses, your readers may not like it).

Nguồn: hackosphere.blogspot.com

Cảm ơn bạn đã ghé thăm Blog của tôi, nếu bạn muốn theo dõi thường xuyên các bài viết hãy đăng ký nhận bản tin RSS. Và nếu bạn có thắc mắc hay góp ý gì về các bài viết, xin hãy để lại nhận xét của mình bằng cách nhấp vào link "Đăng một nhận xét mới" hoặc "Post a Comment" ở phía dưới. Xin cảm ơn!.
no image
  • Bạn đang đọc : Author comment highlighting and notification!
  • Đăng bởi :
  • Ngày : 11:18
  • Labels :
  • Mặc định
  • Facebook Comments

29 nhận xét:

  1. Nặc danh9/1/09 12:37

    Tăng Tuyết Minh, người vợ Trung Quốc của Nguyễn Ái Quốc
    Friday, 19 December 20080 y kienBà Tăng Tuyết Minh ở tuổi 20

    Hoàng Tranh

    ” Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống độc thân suốt thời gian dài lâu nhưng hoàn toàn không phải Người suốt đời không lấy vợ. Thực ra, Hồ Chí Minh từng có một giai đoạn sống trong hôn nhân chính thức. Đó là vào thời kì những năm 20 đầu thế kỉ XX khi người tiến hành công tác cách mạng tại Quảng Châu, Trung Quốc. Nói cụ thể là vào tháng 10 năm 1926, Hồ Chí Minh từng lấy cô gái Quảng Châu Tăng Tuyết Minh làm vợ, đã cử hành hôn lễ, sau khi cưới đã chung sống với nhau hơn nửa năm. Vào tháng 5 năm 1927, sau khi rời Quảng Châu, Hồ Chí Minh đã mất liên lạc với vợ và từ đó không thể gặp lại nữa. Từ đó, đôi tình nhân ấy, người không bao giờ đi bước nữa, người không một lần nào nữa cưới vợ, mỗi người một phương trời, đều sống độc thân cho đến khi từ biệt cõi đời này.”

    ” Tăng Tuyết Minh, người vợ Trung Quốc của Hồ Chí Minh, quê ở huyện Mai tỉnh Quảng Đông, sinh tháng 10 năm 1905 ở thành phố Quảng Châu. Thân phụ của Tuyết Minh là Tăng Khai Hoa, thời trẻ một mình đến Đàn Hương Sơn (Honolulu) lúc đầu làm công, sau buôn bán ; khi tích luỹ được ít vốn liếng, trở về nước tiếp tục buôn bán, gia cảnh khấm khá, vui vẻ. Người vợ đầu của ông Tăng Khai Hoa họ Phan, sinh được hai trai một gái. Sau khi bà Phan bị bệnh mất, ông lấy bà vợ kế họ Lương là người huyện Thuận Đức sinh được 7 cô con gái nữa. Tăng Tuyết Mai là con út, bởi vậy những người quen biết Tăng Tuyết Minh thường gọi cô là ” cô Mười “. Khi cô 10 tuổi thì người cha qua đời, để lại một chút bất động sản. Bà Lương thị cùng Tuyết Minh sống qua ngày nhờ vào tiền thuê nhà, gia cảnh không được như trước. Năm 1918, mới 13 tuổi, Tuyết Minh đã bắt đầu theo chị là Tăng Tuyết Thanh, một y sĩ sản khoa, học việc hộ lí và đỡ đẻ. Đầu năm 1923, người chị ấy đưa Tăng Tuyết Minh đến Phiên Ngu để học Cao đẳng tiểu học. Nửa năm sau, Tăng Tuyết Thanh chẳng may lìa đời, Tăng Tuyết Minh mất đi nguồn chu cấp, ngay tháng 7 năm ấy phải vào trường Hộ sinh Quảng Châu học tập. Tháng 6 năm 1925, Tăng Tuyết Minh tốt nghiệp trường trợ sản, được ông hiệu trưởng giới thiệu đến trạm y tế La Tú Vân làm nữ hộ sinh. Chính thời gian này Tăng Tuyết Minh làm quen với Hồ Chí Minh lúc ấy đang tiến hành công tác cách mạng ở Quảng Châu.”

    ” (…) Tháng 11 năm 1924, Hồ Chí Minh từ Mạc Tư Khoa đến Quảng Châu, lấy tên là Lý Thuỵ, làm việc tại phòng phiên dịch của cố vấn Borodin, thuộc Hội Lao Liên của Tôn Trung Sơn, trú ngụ tại nhà hàng của ông Bào tại quảng trường Đông Hiệu. Sau những giờ làm công tác phiên dịch, Hồ Chí Minh dành nhiều thì giờ và tâm sức vào công việc liên kết và tổ chức các chiến sĩ cách mạng Việt Nam, sáng lập tổ chức cách mạng Việt Nam, huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam trong công tác. Trong thời gian ấy, những thanh niên cách mạng Việt Nam đến Quảng Châu trước như Hồ Tùng Mậu, Lâm Đức Thụ đều trở thành trợ thủ đắc lực cho Người. Lâm Đức Thụ cùng người vợ Trung Quốc của ông là Lương Huệ Quần chính là ông mối bà mối cho cuộc hôn nhân của Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh.”

    ” Lâm Đức Thụ vốn tên là Nguyễn Công Viễn, người huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, Việt Nam, sinh năm 1890 (cùng tuổi với Hồ Chí Minh). Hồ Chí Minh cùng với gia đình Lâm Đức Thụ có thể nói là chỗ giao hảo nhiều đời. Hai người quen biết nhau từ thuở thiếu thời, lại cùng chí hướng. Năm 1911, Hồ Chí Minh đến châu Âu tìm chân lí cách mạng, gần như đồng thời, hưởng ứng lời hiệu triệu của nhà chí sĩ chống Pháp lão thành Phan Bội Châu, Lâm Đức Thụ muốn Đông du qua Nhật, nhưng khi nổ ra Cách mạng Tân Hợi, Phan Bội Châu tới Trung Quốc, sáng lập Việt Nam Quang phục hội ở Quảng Châu, Lâm Đức Thụ theo Phan Bội Châu đến Quảng Châu và gia nhập hội đó. Đầu năm 1922, một số thanh niên nhiệt huyết trong Việt Nam Quang phục hội cảm thấy thất vọng về cánh già bảo thủ nên đã li khai Quang phục hội để lập ra một đoàn thể cấp tiến hơn là Tâm tâm xã. Sau khi đến Quảng Châu, Hồ Chí Minh rất nhanh chóng liên hệ được với Tâm tâm xã và quyết định cải tạo tổ chức này thành một tổ chức cách mạng chân chính của giai cấp vô sản Việt Nam. Hồ Chí Minh vốn quen biết Lâm Đức Thụ từ trước nên ở Quảng Châu Người coi Lâm là cốt cán có thể tin cậy.”

    ” Lâm Đức Thụ hoạt động ở Quảng Châu một thời gian khá lâu. Ở đây ông đã lấy cô gái Trung Quốc Lương Huệ Quần làm vợ. Mẹ của Lương Huệ Quần là một thầy thuốc đã mở tại thành phố Quảng Châu một dịch vụ y tế. Lương Huệ Quần có làm công tác y tá tại đó. Năm 1925, Tăng Tuyết Minh tốt nghiệp trường Bảo sinh trợ sản, qua sự giới thiệu của ông hiệu trưởng đã tới cơ sở dịch vụ y tế của mẹ Lương Huệ Quần làm cô đỡ nên đã nhanh chóng quen biết với Lương Huệ Quần và trở nên thân thiết. Lương Huệ Quần lớn hơn Tăng Tuyết Minh 3 tuổi nên cô thường gọi là ” chị Quần “, hai cô đối xử với nhau như chị em ruột.”

    Nguyễn Ái Quốc ở tuổi 30

    ” Lâm Đức Thụ sau năm 1927 đã từng bước phản bội, li khai hàng ngũ cách mạng Việt Nam làm không ít điều nguy hại cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nhưng tại thời điểm mấy năm Hồ Chí Minh mới đến Quảng Châu thì ông ta cũng là một thanh niên cách mạng hăng hái có triển vọng. Hồ Chí Minh chẳng những được Lâm Đức Thụ phối hợp và chi viện trong công tác mà còn được Lâm giúp đỡ cả về mặt kinh tế. Hồ Chí Minh thậm chí đã đem cả chuyện trăm năm của mình phó thác cho Lâm Đức Thụ. Mùa hè năm 1926, Hồ Chí Minh đề xuất với Lâm Đức Thụ rằng do việc công quá bận rộn, anh cũng muốn tìm một cô gái Trung Quốc để tiện trong cuộc sống nơi cư trú có người chăm sóc. Lâm Đức Thụ cùng với vợ là Lương Huệ Quần bàn bạc thấy Tăng Tuyết Minh là đối tượng thich hợp bèn giới thiệu cho Tăng Tuyết Minh và Hồ Chí Minh làm quen với nhau. Hồ Chí Minh sau khi gặp mặt Tăng Tuyết Minh đã rất có cảm tình với cô gái Quảng Châu có gương mặt trái xoan, da trắng nõn điềm đạm, đoan trang, thông minh, sáng dạ, vì vậy sau giờ làm thường hẹn gặp và trò chuyện với cô. Nơi gặp gỡ thường là nhà Lương Huệ Quần. Cảm tình của đôi bên ngày càng sâu sắc, nhanh chóng đi đến trao đổi về hôn lễ. Thời gian này Hồ Chí Minh thường đưa Tăng Tuyết Minh đến nhà hàng của ông Bào để gặp phu nhân họ Bào và tranh thủ ý kiến của bà về việc hôn nhân của họ. Phu nhân họ Bào nhiệt liệt tán thành việc kết hôn của họ. Thế nhưng bà mẹ Tăng Tuyết Minh ngay từ đầu không đồng ý cuộc hôn nhân này vì thấy Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng phiêu lưu bạt xứ, ở không định nơi, con gái lấy người như vậy rồi sẽ khổ đau một đời. Đúng vào lúc ấy người anh hai của Tăng Tuyết Minh là Tăng Cẩm Tương, sau một thời gian sang Mỹ học tập đã trở về Quảng Châu. Anh gặp Hồ Chí Minh, dùng tiếng Anh trò chuyện, thấy Hồ Chí Minh có học vấn rất tốt, lão luyện và cẩn trọng, lại tâm huyết với sự nghiệp, vì thế anh đã thuyết phục bà mẹ đồng ý với cuộc hôn nhân này.”

    ” Hồ Chí Minh gặp Tăng Tuyết Minh luôn luôn. Một mặt, cố nhiên, anh thích tính giản dị, đoan trang, thông minh, chăm chỉ của cô gái ; mặt khác anh cũng cảm thấy cô còn non nớt, cần phải giác ngộ chân lí cách mạng hơn, hiểu đời hơn nữa và nâng cao năng lực hoạt động hơn. Vì vậy anh động viên Tuyết Minh thôi việc nữ hộ sinh ở cơ sở dịch vụ y tế và tham gia học tập ở một lớp huấn luyện vận động phụ nữ. Lúc ấy Ban phụ vận của Trung ương Quốc dân đảng Trung Quốc do Hà Hương Nghi chủ trì, đang dự định mở một cơ sở huấn luyện vận động phụ nữ tại Quảng Châu nhằm bồi dưỡng cán bộ phụ nữ trong nước. Hồ Chí Minh thông qua sự quen biết trực tiếp với các vị Chu Ân Lai, Đặng Dĩnh Siêu, Lí Phú Xuân, Thái Sướng, xin được hai suất cho Tăng Tuyết Minh và Lương Huệ Quần cùng vào học lớp huấn luyện vận động phụ nữ. Kì ấy, lớp khai giảng ngày 16 tháng 9 năm 1926 và kết thúc vào ngày 16 tháng 3 năm 1927, thời gian học tập là nửa năm. Quảng Châu thời ấy là trung tâm của cách mạng Trung Quốc. Trong quá trình lớp huấn luyện phụ vận tiến hành, người ta chẳng những đã mời không ít các đồng chí có trách nhiệm của Đảng cộng sản Trung Quốc đến giảng mà còn tổ chức cho học viên tham gia các hoạt động xã hội. Nhờ được học tập, quả nhiên Tăng Tuyết Minh tiến bộ rất nhanh, trong khoá học, được bạn đồng học là Trịnh Phúc Như giới thiệu, cô đã gia nhập Đoàn Thanh niên xã hội chủ nghĩa.”

    ” Do Hồ Chí Minh lại thúc giục nên hôn lễ của hai người đã được cử hành vào tháng 10 năm 1926. Lúc ấy Hồ Chí Minh 36 tuổi, còn Tăng Tuyết Minh 21. Địa điểm tổ chức hôn lễ là nhà hàng Thái Bình trước Ty Tài chính ở trung tâm thành phố. Đó cũng là địa điểm mà một năm trước đấy Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu mời khách đến dự lễ kết hôn của mình. Tham dự hôn lễ có phu nhân Bào La Đình, Thái Sướng, Đặng Dĩnh Siêu và một bộ phận học viên khoá huấn luyện phụ vận. Phu nhân họ Bào tặng một lẵng hoa tươi. Mấy ngày đầu sau lễ cưới, Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh tạm trú trong Tổng bộ Thanh niên cách mạng đồng chí hội, vốn là nơi nghỉ ngơi của Hồ Chí Minh. Lúc ấy, Hồ Chí Minh đang chủ trì khoá huấn luyện chính trị đặc biệt thứ III của Việt Nam, do học viên khá đông nên địa điểm học tập đã chuyển từ Tổng bộ Thanh niên cách mạng đồng chí hội đến phố Nhân Hưng ở đường Đông Cao. Mấy ngày sau Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh dọn đến trú ngụ ở quán của ông Bào, lúc đầu dùng bếp tập thể, sau tự nấu nướng. Hồ Chí Minh bận rộn công tác, mọi việc nhà đều do Tăng Tuyết Minh quán xuyến. Cô chăm sóc chu đáo mọi sự ăn uống, sinh hoạt thường ngày của Hồ Chí Minh, giúp cho anh từ tuổi 21 đã xa nhà bôn tẩu, làm ” kẻ phiêu diêu ” góc bể chân trời, thì nay sau 15 năm lại có được cảm giác ấm áp ” ở nhà mình “. Hồ Chí Minh rất mãn nguyện về cô vợ Trung Quốc của mình. Sau ngày cưới, Hồ Chí Minh từng nhiều lần đàm đạo với Lâm Đức Thụ, Lương Huệ Quần về vợ mình, đều nói rõ điều đó.”

    Uyên ương chia lìa đôi ngả
    ” Thế nhưng phúc chẳng dài lâu. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, mới nửa năm sau khi Hồ Chí Minh với Tăng Tuyết Minh kết hôn, Tưởng Giới Thạch phản bội cách mạng, phát động cuộc chính biến phản cách mạng tại Thượng Hải, tình thế ở Quảng Châu cũng chuyển biến theo. Trước đó, chính phủ Quốc dân đã rời tới Vũ Hán. Trụ sở của đoàn cố vấn Lao Liên cũng rời tới Vũ Hán. Và tất nhiên, Hồ Chí Minh cũng phải chuyển đến Vũ Hán. Trung tuần tháng 5, Hồ Chí Minh lưu luyến chia tay với Tăng Tuyết Minh, trước lúc lên đường dặn đi dặn lại Tăng Tuyết Minh : ” Em phải bảo trọng, đợi tin tức của anh ; ổn định nơi chốn một chút là anh đón em ngay “. Thế rồi, Hồ Chí Minh rời Quảng Châu, chuyển đến Vũ Hán, rồi lại chuyển đến Thượng Hải, đi đường Hải Sâm Uy, khoảng giữa tháng 6 năm 1927 đến Mạc Tư Khoa. Sau đó, Hồ Chí Minh lại vội vàng đến Đức, Pháp, Bỉ, Thuỵ Sĩ, Italia… tạm ngừng công tác, cuối cùng, tháng 8 năm 1929, đến Thái Lan.”

    Lev Trotsky và Nguyễn Ái Quốc năm 1924 ở Moskva

    ” Do Tưởng Giới Thạch phản bội, thành Quảng Châu rơi vào giữa một cuộc khủng bố trắng. Sau khi chia tay với Hồ Chí Minh, Tăng Tuyết Minh một mình về sống với mẹ và những người thân. Trong hai năm, từ tháng 7 năm 1927 đến tháng 6 năm 1929, Tăng Tuyết Minh vào trường Anh văn Kiêm Bá và trường Trung học nữ sinh Tân Á học tập. Thời gian đầu, cô còn giữ được liên hệ với một số đồng chí cách mạng quen biết ở cơ sở huấn luyện phụ vận. Về sau do Quốc dân đảng ngày càng đàn áp tàn bạo các đảng viên cộng sản, các đồng chí mà Tăng Tuyết Minh quen biết đều rời Quảng Châu, mối liên hệ về tổ chức của cô với đoàn viên Đoàn Thanh niên xã hội chủ nghĩa Trung Quốc cũng bị gián đoạn. Tháng 7 năm 1929, Tăng Tuyết Minh rời Quảng Châu, về quê nhà của mẹ ở Thuận Đức, làm nữ hộ sinh tại một trạm y tế tư ở thị trấn Lặc Lưu. Đầu năm 1930, cô lại chuyển đến làm nữ hộ sinh ở y xá Quần An của Dư Gia Viên, thị trấn Lạc Tòng, huyện Thuận Đức.”

    ” Thời gian này, Hồ Chí Minh có hai lần nhờ người mang thư và gửi thư liên hệ với Tăng Tuyết Minh, nhưng đều không kết quả. […] Sau khi đến Thái Lan, Người lấy tên là Đào Cửu, tiến hành công tác tuyên truyền và tổ chức cách mạng trên đất Thái Lan. […] đã hơn một năm Hồ Chí Minh li biệt với Tăng Tuyết Minh, nhớ nhung da diết. Nơi đây cách Trung Quốc tương đối gần, nhờ người chuyển thư cũng tiện, bèn cầm bút viết thư cho Tăng Tuyết Minh. Hồ Chí Minh cũng nghĩ đến thời cuộc biến loạn, tình huống thiên biến vạn hoá, thư có đến được tay vợ hay không, thật khó dự đoán. Vì vậy, anh quyết định dùng lời lẽ ngắn gọn, hàm súc viết một bức thư ngắn, bảo cho biết mình vẫn bình an và thăm hỏi người thân. Nội dung bức thư đó như sau : ” Từ ngày chia tay với em, đã hơn một năm trôi qua. Nhớ thương khắc khoải, chẳng nói cũng hiểu. Nay mượn cánh hồng, gửi mấy dòng thư để em yên tâm, đó là điều anh mong mỏi, và cầu cho nhạc mẫu vạn phúc. Anh trai vụng về, Thuỵ “.

    Thư gửi Tăng Tuyết Minh
    Lá thư bị Mật thám Đông Dương chặn được ngày 14.8.1928, hiện tàng trữ tại C.A.O.M. (Aix en Provence). Xuất xứ : Daniel Hémery, HO CHI MINH De L’Indochine au Vietnam, Gallimard, Paris 1990, tr.145.

    PHIÊN ÂM : Dữ muội tương biệt, chuyển thuấn niên dư, hoài niệm tình thâm, bất ngôn tự hiểu. Tư nhân hồng tiện, Dao ký thốn tiên, Tỷ muội an tâm, Thị ngã ngưỡng/sở vọng. Tinh thỉnh Nhạc mẫu vạn phúc. Chuyết huynh Thuỵ.

    DỊCH : Cùng em xa cách Đã hơn một năm Thương nhớ tình thâm Không nói cũng rõ. Cánh hồng thuận gió Vắn tắt vài dòng Để em an lòng Ấy anh ngưỡng vọng. Và xin kính chúc Nhạc mẫu vạn phúc. Anh ngu vụng : Thuỵ (Bản dịch của N.H. Thành)

    ” […] Không rõ người mang thư sơ suất, hay là anh ta vốn dĩ không thể tin cậy, mà bức thư đó đã nhanh chóng lọt vào tay cơ quan mật thám Pháp ở Đông Dương, cuối cùng thành vật lưu trữ tại Cục hồ sơ can án quốc gia của nước Pháp. Năm 1990, trong dịp kỉ niệm 100 năm sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Gallimard ở Pháp đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Hồ Chí Minh - từ Đông Dương đến Việt Nam, giữa tranh ảnh minh hoạ trong sách có bản in chụp bức thư bằng Trung văn nói trên của Hồ Chí Minh gửi cho vợ, với những dòng thuyết minh : ” Thư của Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) viết cho vợ. Chuyển tới cơ quan đặc vụ Đông Dương ngày 14 tháng 8 năm 1928 “. […] Một tác giả tên là Bùi Đình Kế trên báo Nhân Dân của Việt Nam, số ra ngày 19 tháng 5 năm 1991 đã dẫn lại bức thư đó trong bài nhan đề Về một tài liệu liên quan sinh hoạt cá nhân của Nguyễn Ái Quốc. Bài báo đã phân tích và phỏng đoán bức thư đó liệu có phải của Hồ Chí Minh hay không. Tuy nhiên, đã không đưa ra được kết luận rõ ràng. Thực ra, bức thư đó chính xác là do Hồ Chí Minh viết. Một là, đối chiếu với những thư cảo Trung văn của Hồ Chí Minh thì bức thư đó hoàn toàn ăn khớp với bút tích của người. Hai là, lúc Hồ Chí Minh viết bức thư đó cách thời điểm chia tay với Tăng Tuyết Minh đúng là hơn một năm như nói ở trong thư. Ba là, tên kí dưới thư Thuỵ đúng là bí danh Hồ Chí Minh dùng trong thời gian ở Quảng Châu. Bốn là, Tăng Tuyết Minh từ nhỏ mất cha, chỉ có mẹ lúc ấy còn sống, và Hồ Chí Minh nắm rõ điều đó, nên trong thư chỉ vấn an nhạc mẫu. Căn cứ những điều trên, bức thư đó do Hồ Chí Minh viết, không còn nghi ngờ gì nữa. Thư viết xong đã rơi vào tay mật thám Pháp, đó là điều Hồ Chí Minh đã không thể lường trước được.

    ” Lúc ấy, Hồ Chí Minh công tác ở Thái Lan đến tận tháng 11 năm 1929. Sau đó, Người được Quốc tế Cộng sản cử đến Hương Cảng, triệu tập hội nghị thống nhất ba tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản. ” Hội nghị thống nhất ” đã khai mạc tại Hương Cảng ngày 3 tháng 2 năm 1930, chính thức tuyên bố thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau hội nghị, tháng 3 năm đó Hồ Chí Minh trở lại Thái Lan, tháng 4 lại đến Hương Cảng. Sau, nhiều lần lại từ Hương Cảng đến Thượng Hải, tiến hành công tác tuyên truyền và tổ chức cách mạng trong Việt kiều tại tô giới Pháp ở Thượng Hải. Lúc ấy, các đảng viên cộng sản Việt Nam Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Lương Bằng… cũng đang hoạt động trong Việt kiều ở Thượng Hải. Đầu tháng 5 năm 1930, Hồ Chí Minh lại viết một bức thư nữa từ Thượng Hải gửi Tăng Tuyết Minh. Bức thư này gửi qua Quảng Châu cho Tăng Tuyết Minh lúc ấy đang làm nữ hộ sinh ở cơ sở dịch vụ y tế tại Gia Dư Viên, thị trấn Lặc Lưu, huyện Thuận Đức. Nội dung yêu cầu Tăng Tuyết Minh mau mau đến Thượng Hải đoàn tụ. Trong thư có hẹn kì hạn và nói rõ nếu quá hạn đó mà Tăng Tuyết Minh không đến sẽ đành một mình xuất ngoại. Thế nhưng, với cả bức thư này nữa, cũng đã xảy ra chuyện ngoài ý muốn, Tăng Tuyết Minh cũng không sao nhận được. Tài liệu hồi ức do Tăng Tuyết Minh viết cũng như lời kể lại của bà qua thư từ trao đổi với tác giả bài này đều nói tới hoàn cảnh của sự cố này.

    ” Hoá ra, tháng 7 năm 1929 Tăng Tuyết Minh sau khi đã rời Quảng Châu, làm nữ hộ sinh ở trạm y tế của bác sĩ Dư Bác Văn mới mở ra ở thị trấn Lặc Lưu, huyện Thuận Đức, đến cuối năm. Đầu năm sau, cô lại chuyển đến làm nữ hộ sinh tại y xá Quần An của Sa Khiếu ở thị trấn Lạc Tòng cũng huyện Thuận Đức. Bức thư của Hồ Chí Minh chuyển đến cho trạm y tế của Dư Bác Văn ở thị trấn Lặc Lưu thì lúc ấy Tăng Tuyết Minh đã rời đi rồi. Trưởng trạm y tế Dư Bác Văn chẳng những không kịp thời chuyển thư đến Tăng Tuyết Minh mà ngược lại còn tự ý mở thư trước mặt vợ mình, lại còn gọi thêm cả nữ y sĩ Hoàng Nhã Hồng, xem trộm nội dung thư, sau đó đem đốt đi. Nửa năm sau khi xảy ra chuyện đó, Tăng Tuyết Minh trở lại Quảng Châu thăm mẹ và nhận lời mời đến dự lễ khai trương cơ sở y tế tại nhà một bạn đồng học cũ. Tại đây cô bất ngờ gặp lại nữ y sĩ Hoàng Nhã Hồng, người đã từng làm việc cùng tại thị trấn Lặc Lưu, huyện Thuận Đức. Nữ y sĩ đó đã đem toàn bộ sự việc tuôn ra hết ngọn ngành. Lúc ấy so với thời hạn Hồ Chí Minh hẹn gặp nhau ở Thượng Hải thì đã qua nửa năm. Tăng Tuyết Minh chỉ còn biết kêu khổ khôn nguôi, nuốt nước mắt vào lòng. Như vậy con người kia đã gieo tại hoạ khiến Tăng Tuyết Minh mất đi cơ hội được trở lại bên chồng, cũng gây cho cô một bi kịch suốt đời trong tương lai.”

    Luật sư Loseby, người bảo vệ Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông

    ” Đến cuối năm 1931, rốt cuộc Tăng Tuyết Minh cũng có được một cơ hội gặp Hồ Chí Minh nhưng lại là tại toà án của nhà đương cục Anh ở Hương Cảng xét xử Hồ Chí Minh. Tăng Tuyết Minh chỉ có thể nhìn thấy Hồ Chí Minh từ rất xa, còn Hồ Chí Minh thì hoàn toàn không biết vợ mình có mặt tại toà. Cuối những năm 20 - đầu 30 hoàn cảnh của các nhà cách mạng Việt Nam hoạt động tại Hương Cảng rất tồi tệ. Trong hàng ngũ cách mạng có kẻ phản bội, các cơ sở bí mật bị phá hoại, chính quyền thực dân Pháp và nhà đương cục Anh ở Hương Cảng cấu kết với nhau bắt bớ các chiến sĩ cách mạng. Hồ Tùng Mậu bị các nhà đương cục Anh bắt rồi giao cho mật thám Pháp ” dẫn độ ” về Việt Nam giam cầm. Hồ Chí Minh cũng bị các nhà đương cục Anh bắt ngày 5-6-1931, lí do là làm tay sai cho hội Lao Liên, âm mưu tiến hành hoạt động phá hoại tại Hương Cảng. Sau khi Hồ Chí Minh bị bắt, Quốc tế Cộng sản thông qua hội Chữ thập đỏ quốc tế kêu gọi cứu giúp. Tổ chức đó lại mời một luật sư tiến bộ người Anh ở Hương Cảng là ông Loseby bào chữa cho Hồ Chí Minh. Sau vài tháng bị giam giữ, Hồ Chí Minh bị đưa ra xét xử. Lần này đến Hương Cảng, Người lấy bí danh là Tống Văn Sơ. Nhưng sau khi bị bắt nhà đương cục Anh đã phát hiện đó chính là Lý Thuỵ, cũng tức là Nguyễn Ái Quốc. Lúc ấy rất nhiều báo Hương Cảng đưa tin. Cùng thời gian này, thân mẫu Tăng Tuyết Minh đang bị bệnh. Cô cùng mẹ đến Hương Cảng trú tại cơ sở chữa bệnh của anh cả là Tăng Cẩm Nguyên. Đọc được tin toà sẽ xét xử chồng mình là Lý Thuỵ liền nhờ bạn bè cũ cùng đến toà. Người đến dự thính xét xử rất đông. Tăng Tuyết Minh phải ngồi nghe cách xa phòng xử án. Nhìn thấy hình dáng tiều tuỵ của người chồng xa cách đã năm năm mà lòng khôn ngăn trăm mối ngổn ngang. Nhưng do khoảng cách khá xa, lại giữa toà án vợ chồng chẳng những vô phương trò chuyện mà Hồ Chí Minh thậm chí chắc chắn không hề biết Tăng Tuyết Minh đang ở trước mắt mình. Tăng Tuyết Minh muốn đến thăm nom nhưng có lời truyền ra rằng đây là một trọng phạm chính trị không được phép thăm hỏi, gặp gỡ. Tăng Tuyết Minh hỏi dò nhiều nơi và biết được rằng hội Hồng thập tự quốc tế và luật sư Loseby đang tìm cách cứu Hồ Chí Minh, tình cảnh có lẽ cũng sẽ chuyển biến, đành cùng thân mẫu trở về Quảng Châu, lòng hoang mang không biết làm sao.

    Nguyễn Ái Quốc khoảng năm 1934 khi ra tù, trở lại Moskva.

    ” Tháng 2 năm 1932, thân mẫu Lương thị của Tăng Tuyết Minh bệnh nặng qua đời, hưởng thọ 76 tuổi. Tăng Tuyết Minh chuyển đến công tác ở y xá Quần An ở huyện Đông Hoàn, vốn là cơ cấu phân chi của y xá Quần An huyện Thuận Đức, vẫn làm nữ hộ sinh. Lúc này, cha mẹ cô đều đã mất, anh em đông nhưng người thì đi xa, người thì chết sớm, Tăng Tuyết Minh côi cút độc thân, thật là buồn khổ. Năm 1943, sau tiết xuân, thầy giáo cũ là Trương Tố Hoa mở tại đường Long Tân ở Quảng Châu một phòng chẩn trị, có lời mời Tăng Tuyết Minh đến giúp sức. Cô bèn xin thôi việc ở Đông Hoàn, đến phòng chẩn trị của Trương Tố Hoa làm nữ hộ sinh và làm việc ở đó cho đến tận ngày (Trung Quốc) giải phóng. Sau khi nước Trung Quốc mới được thành lập, chính phủ tiến hành cải tạo và chỉnh đốn các cơ sở kinh tế tư nhân, thành lập các trạm vệ sinh bảo vệ sức khoẻ tại các khu. Tăng Tuyết Minh hưởng ứng lời kêu gọi của chính phủ, đã đến công tác tại trạm số 8 ở khu vực phía Tây. Về sau trạm này đổi gọi là Viện Vệ sinh Kim Hoa (nay là Viện Y học Trung y khu Lệ Loan). Tăng Tuyết Minh công tác ở đó, hành nghề nữ hộ sinh đến tận năm 1977 khi về hưu.”

    Bà Tăng Tuyết Minh (ảnh chụp năm 1965, ở tuổi 60)

    Thế là từ sau lần trông thoáng thấy chồng ở Hương Cảng, không bao giờ Tăng Tuyết Minh gặp lại Nguyễn Ái Quốc nữa. Theo tác giả Hoàng Tranh, tháng 5-1950, thấy hình Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Nhân dân Nhật báo cùng với tóm tắt tiểu sử, bà tin chắc Hồ Chí Minh chính là chồng mình, nhất là sau khi tìm mua được cuốn Truyện Hồ Chí Minh (nhà xuất bản Tân Hoa). Bà đã ” báo cáo với tổ chức “, đồng thời gửi mấy bức thư cho chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh là Hoàng Văn Hoan. Những bức thư ấy ” đều như đá chìm biển khơi (…) thậm chí chúng có được gửi ra khỏi Quảng Châu hay không là điều còn đáng hoài nghi “. Tuy nhiên, một cán bộ lãnh đạo Quảng Châu đã tới gặp Tăng Tuyết Minh, trao cho bà lá thư của bà Thái Sướng (một trong những người đã tới dự tiệc cưới năm 1926 cùng với bà Đặng Dĩnh Siêu, vợ của Chu Ân Lai) ” chứng thực Hồ Chí Minh chính là Lý Thuỵ cũng tức là chồng Tăng Tuyết Minh “. Cán bộ này cũng ” giải thích (…) lí do tại sao không tiện liên lạc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, hy vọng Tăng Tuyết Minh hiểu và lượng thứ việc này, yên tâm công tác “. Vẫn theo sử gia Hoàng Tranh thì về phần mình, Hồ Chí Minh đã ” từng thông qua Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu dò tìm tăm tích của Tăng Tuyết Minh, năm 1960 lại nhờ Bí thư Trung Nam cục Đào Chú dò tìm dấu vết của bà ” song ” việc trên đương nhiên không thể có bất kì kết quả gì ” vì ” điều này vào thời ấy hoàn toàn không kì lạ “.

    Bà Tăng Tuyết Minh đã ” yên tâm công tác ” cho đến năm 1977 mới về hưu, sau 52 năm tận tuỵ với nghề nữ hộ sinh. Theo Hoàng Tranh, gia đình bà theo đạo Công giáo từ đời ông nội, và bà ” thường xuyên đi lễ ở giáo đường “. Bà ” có thói quen ăn uống đạm bạc, không dùng cá thịt “, cuộc sống ” vô cùng giản dị “, ” luôn vui vẻ giúp người “…

    ” 11 giờ 15 phút ngày 14 tháng 11 năm 1991, sau 86 năm trải qua con đường đầy lận đận long đong, tại nơi cư ngụ [687 đường Long Tân Đông, Quảng Châu], cụ bà Tăng Tuyết Minh đã bình yên nhắm mắt, thanh thản trút hơi thở cuối cùng “.

    Hoàng Tranh
    ————————————————-
    Toàn văn bài này, Hồ Chí Minh với người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh, đã đăng trên số tháng 11-2001 của tạp chí Đông Nam Á tung hoành (Dọc ngang Đông Nam Á), xuất bản tại Nam Ninh. Tác giả Hoàng Tranh (Huang Zheng) là nhà sử học, viện phó Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây, tác giả cuốn Hồ Chí Minh với Trung Quốc (Nhà xuất bản Tân Tinh, Nam Ninh, 1990). Bản dịch của Minh Thắng. Theo thông tin từ Hà Nội, một tạp chí sử học có ý đăng bài này, những đã bị chặn lại.

    www.rfa.org/vietnamese

    Trả lờiXóa
  2. Nặc danh9/1/09 12:38

    HO` CHU TICH QUA VI DAI:

    Hồ Chí Minh thần tượng hay huyễn tượng
    Wednesday, 17 December 20082 y kienÔng Hồ và Nông Thị Xuân - người được nói là đã có 1 con trai với ông

    Ngô Đức Diễm - Hồ Chí Minh, một nhân vật được Đảng Cộng Sản Việt Nam tôn thờ như một lãnh tụ thần thánh, và cũng thường được thế giới nhắc tới như một nhà cách mạng Việt Nam đáng kính. Nhiều tác giả từ Đông sang Tây đã từng viết về nhân vật lịch sử này, khen cũng có mà chê cũng không ít. Mới đây, hai sự kiện khá lý thú vừa xảy ra đang làm dư luận chú ý. Hội Đồng Thành Phố Acapulco của Mễ Tây Cơ đã thông qua quyết nghị vinh danh Hồ Chí Minh như một anh hùng Việt Nam và dựng tượng họ Hồ bên cạnh tượng Gandhi tại thành phố du lịch này. Trong khi đó, Giáo Sư Hồ Xuân Hùng tại Đài Loan mới đây vừa tung ra qủa bom làm chấn động dư luận, cho rằng Hồ Chí Minh không phải là người Việt Nam mà là người Trung Hoa, thuộc sắc tộc He (Hakka). Trước những cái nhìn trái ngược đó, thiết tưởng đặt lại vấn đề “Hồ Chí Minh là thần tượng hay huyễn tượng” là điều hợp lý và hợp tình.

    Hồ Chí Minh là ai? Cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm thấy câu trả lời dứt khoát. Thực vậy, tên tuổi, ngày tháng, năm sinh cũng như quãng đời hoạt động của họ Hồ đã được ghi lại một cách khác nhau, biến nhân vật lịch sử này thành một dấu hỏi lớn, nếu không nói là một huyền thoại! Theo nhiều tài liệu được viết ra, Hồ Chí Minh tên thật là Nguyễn Sinh Cung. Con ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy có tên sổ bộ là Nguyễn Tất Sắc. Bước vào con đường hoạt động chính trị, Nguyễn Sinh Cung đổi tên là Nguyễn Tất Thành, rồi Nguyễn Ái Quốc và chính thức là Hồ Chí Minh.

    Khuynh hướng đề cao Hồ Chí Minh không hẳn là thiếu phổ biến. Với Đảng Cộng Sản Việt Nam, Hồ Chí Minh là vị “cha già dân tộc” khả kính, soi đường dẫn lối đưa dân Việt tới đài vinh quang. Theo người cộng sản, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng được sánh ví ngang hàng với tư tưởng Mác-Lê trong vai trò chỉ đạo, nên Điều 4 Hiến Pháp cộng sản Việt Nam đã ghi rõ “Đảng cộng sản Việt Nam…theo chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh..là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Bên cạnh tư tưởng chỉ đạo, người cộng sản còn đề cao đạo đức cánh mạng của Bác Hồ như một ông thánh, hy sinh hạnh phúc cá nhân để phục vụ dân nước. Nào là Bác sống độc thân không vợ không con. Nào là Bác sống một đời thanh đạm, ở nhà sàn, chân đi dép lốp, mặc áo Khaki..Nhất là Bác luôn luôn đề cao những giá trị độc lập tự do thống nhất, và còn chú trọng đến chính sách “thụ nhân” chủ trương “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người..” Chính vì những công lao đáng nhớ đó, nên Đảng cộng sản Việt Nam mới cố gắng duy trì hình ảnh “Bác sống mãi trong quần chúng” với xác ướp và lăng Hồ Chí Minh tại Ba Đình, giống như xác ướp Lê Nin tại Quãng Trường Đỏ Cẩm Linh. Nhất là Đảng cộng sản Việt Nam còn lấy tên Hồ Chí Minh đặt cho thủ đô Sài Gòn ngày 1 tháng 5 năm 1975 để nhớ công ơn “giải phóng miền Nam” theo di chúc của Bác.

    Không phải chỉ có cộng sản Việt Nam tôn vinh Hồ Chí Minh làm cha già dân tộc, mà chính cơ quan Unesco thuộc Liên Hiệp Quốc trong phiên họp khoáng đại ngày 20 tháng 10 năm 1987, đã thông qua quyết nghị vinh danh Hồ Chí Minh như một anh hùng văn hóa (great man of culture) trong ngày sinh nhật thứ 100 của họ Hồ. Nhưng quyết định đó không được thực hiện vì bị cộng đồng người Việt chống đối mạnh mẽ, đưa ra ánh sáng những sự thật tiêu cực đàng sau những huyền thoại được tô son điểm phấn đầy tính cách lừa phỉnh.

    Mới đây nhất là sự kiện thành phố Acapulco của Mễ Tây Cơ quyết định vinh danh Hồ Chí Minh như một anh hùng dân tộc và dựng tượng họ Hồ bên cạnh tượng Gandhi tại thành phố tươi đẹp trên bờ Thái Bình Dương này. Quyết nghị này đã làm dân Việt khắp nơi bất bình phẫn nộ. Trước sự vận động mạnh mẽ của Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam, 20 cộng đồng người Việt từ Úc Châu, Canada, Pháp, Hòa Lan, Bỉ và đặc biệt là Hoa Kỳ đã ký tên trong một thư ngỏ đăng trên nhật báo El Sur ngày 7 tháng 12 năm 2008, đòi hỏi Hội Đồng Thành Phố Acapulco hủy bỏ quyết định gây sóng gió nói trên, đồng thời phô bày bộ mặt thật của họ Hồ cho thế giới. Theo thư ngỏ, Hồ Chí Minh không xứng đáng được tôn vinh, vì họ Hồ không phải là nhà đại cách mạng hay anh hùng dân tộc, mà chỉ lả một tên cộng sản quốc tế, đã đem chủ thuyết Mác Lê bất nhân lỗi thời phản tiến hóa về đày đọa dân tộc Việt Nam trong suốt nửa thế kỷ qua.

    Đối lại với cái nhìn của Đảng cộng sản Việt Nam, của Unesco và thành phố Acapulco, nhiều tác giả khác đã đưa ra những cái nhìn mới về Hồ Chí Minh. Dưới ngòi bút của Minh Võ, Nguyễn Thuyên, Nguyễn Hữu Thống, Đỗ Thông Minh, Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, và mới đây là Trần Khải Thanh Thủy và Hồ Tuấn Hùng, Hồ Chí Minh đã xuất hiện như một con người tầm thường, và huyền thoại Hồ Chí Minh phải được phế bỏ để trả lại sự thật cho lịch sử.

    Theo tài liệu và luận chứng của các tác giả nêu trên, Hồ Chí Minh không phải là một nhà ái quốc chân chính, một cha già dân tộc hay hơn nữa một anh hùng văn hóa. Trái lại, họ Hồ chỉ là con người tầm thường như muôn người khác với những sai lầm, khiếm khuyết cũng như những yếu đuối thường tình của một con người. Hơn nữa, Hồ Chí Minh còn tiêu biểu là con người giả dối, ác độc và thiếu đạo đức cách mạng.

    Thứ nhất, người ta đã khám phá thấy nhiều điểm không thật trong tiểu sử của họ Hồ liên hệ đến tên tuổi, ngày sinh tháng đẻ cũng như đời tư của ông đàng sau những nét son phấn tô điểm để thần thánh hóa lãnh tụ.

    Về tên thì ngoài những tên quen thuộc như Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh, họ Hồ còn xuất hiện với nhiều tên khác mà Trần Khải Thanh Thủy trong tác phẩm “Hồ Chí Minh nhân vật trăm tên nghìn mặt” đã đếm được 167 bút danh bút hiệu, như Nguyễn Tất Thành, Paul Thành, Lê Văn Ba, Lý Thụy, Tống Văn Sơ, Vương Chí Sơn, Chang Vang, Già Thu, Lin, Trần Dân Tiên…

    Về ngày sinh và năm sinh, cho đến nay, người ta vẫn chưa có thể xác quyết Hồ Chí Minh thật sự sinh ngày nào, tháng nào năm nào! Theo báo chí tuyên truyền của Đảng cộng sản, Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890. Thế mà trong đơn xin vào học trường thuộc địa Pháp với cái tên Paul Thành, họ Hồ lại khai là sinh năm 1892 tại thành phố Vinh. Thề rồi tại sở cảnh sát Paris, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, họ Hồ lại khai là sinh ngày 15 tháng 1 năm 1894! Ba năm sau, taị Bá Linh, họ Hồ đã đổi tên là Chang Vang và đổi ngày và năm của mình, khai là sinh ngày 15 tháng 2 năm 1895. Trong cuốn”những mẩu chuyện về đời hoạt độngt của Hồ Chủ Tịch” họ Hồ đã giả danh Trần Dân Tiên, khai là sinh ngày 19 tháng 5 năm 1895!

    Về tư cách thì ôi thôi, hình ảnh vị cha già dân tộc, hình ảnh Bác với “mắt như sao râu dài, nước da nâu người sương gió″ đã hy sinh trọn vẹn đời mình cho tổ quốc dân tộc, nay xuất hiện dưới ngòi bút của Trần Khải Thanh Thủy cũng như nhiều tác gỉa khác như một con người vô đạo đức, thiếu tư cách, nếu không nói là vô liêm sỉ. Thật vậy, hình ảnh Bác độc thân không vợ không con, chỉ có “hàng triệu con cháu, những thanh niên, trẻ em Việt Nam” đã biến thành con hùm râu xanh có nhiều vợ nhiều con như văn chương dân gian đã mô tả:

    Bác sinh Bác vốn đa tình

    Cho nên Bác lấy Tuyết Minh vợ Tàu

    Tuyết Minh đâu phải vợ đầu

    Lạc Xuân Trưng nữa ngõ hầu năm cô!

    Thế là Bác có năm thê bảy thiếp. Tại Hồng Kông, Bác dan díu với cô gái Trung Hoa tên Li Sam. Tại hang Pắc Bó, Bác cũng có ôm ấp cô gái thượng tên là Nông Thị Ngát (Trưng). Tại Cao Bằng, Bác đã có con với Đỗ Thị Lạc. Tiêu biểu nhất là Bác đã có con với Nguyễn Thị Xuân, mà nhân chứng sống của mối tình oan nghiệt đó là cậu Nguyễn Tất Trung hiện nay còn sống tại Hà Nội. Văn chương dân gian cũng đã nhại thơ Lưu Trọng Lư để kể lại mối tình giữa Bác và cô Xuân, cùng với cái chết oan nghiệt của cô Xuân như sau:

    Em có nghe Đảng kể

    Về một vụ hoang thai

    Xác nai vàng ngơ ngác

    Bọc trong lá cờ ta..

    Vũ Thư Hiên, trong tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày, đã trích dẫn lá thư của cô Nguyễn Thị Vàng, em Nguyễn Thi Xuân, tiết lộ về cái chết oan ức của cô Xuân như sau: ” Bác sĩ tuyên bố, đây có thể bị trùm chăn lên đầu rồi dùng búa đánh vào giữa đầu. Đây là phương pháp giết người của bọn lưu manh chuyên nghiệp.” Theo tài liệu, thì đây là luỡi búa của Bộ Trưởng công an Trần Quốc Hoàn hạ xuống theo lệnh Bác để phi tang..

    Thế đó! Không phải Bác chỉ đa tình, mà Bác còn xuất hiện như một con người nham hiểm ác độc:

    Bác sống như một gã hoang dâm

    Chơi hoa rồi lại phái người đâm

    Làm cha như Bác khổ non nước

    Nghĩa hận lòng căm những sớm chiều

    Trở lại câu hỏi Hồ Chí Minh có phải là nhà ái quốc chân chính không, nhiều tác giả đã khẳng định là không. Luật Sư Nguyễn Hữu Thống, trong cuốc Giải Thể Chế Độ Cộng Sản, đã qủa quyết “Hồ Chí Minh không phải người yêu nước. Nguyễn Ái Quốc không phải là nhà ái quốc, nên ông ta vẫn tiếp tục đẩy tới chiến tranh võ trang để phá vỡ mọi giải pháp độc lập quốc gia.” Theo LS Thống, độc lập thống nhất chỉ là chiêu bài Hồ Chí Minh dùng để áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đầu dân Việt, vì thực sự Việt Nam đã có độc lập thống nhất từ năm 1949, khi Tổng Thống Pháp Vincent Auriol ký Hiệp Định Elysee với Quốc Trưởng Bảo Đại, công nhận Việt Nam độc lập thống nhất trong Liên Hiệp Pháp.

    Sở dĩ Hồ Chí Minh dùng độc lập thống nhất làm chiêu bài nhuộm đỏ Đông Nam Á, vì trước sau, họ Hồ chỉ là một con người cộng sản quốc tế. Đỗ Thông Minh trong cuốn Con Đường Dân Chủ Hóa Việt Nam đã xác nhận: “Lý Thụy là một đảng viên quốc tế cộng sản, cán bộ được đào tạo dể bành trướng chủ nghĩa cộng sản vùng Đông Nam Á. Các tài liệu trong văn khố Nga và Bộ Văn Khố Đảng Toàn Tập của Đảng cộng sản Việt Nam cho thấy ông hoàn toàn lãnh lương và làm theo chỉ thị của quốc tế cộng sản.” Chính Búi Tín, trong cuốn Về Ba Ông Thánh, cũng thú nhận; ” Trước đây, tôi đã nhận định ông Hồ là người yêu nước, nhân vật có công lao với đất nước, đồng thời ông có trách nhiệm trong những lỗi lầm, trong những lầm lẫn, để cho đất nước nghèo khổ, không có dân chủ, không có luật pháp nghiêm minh..”

    Điều đáng nói và hẳn lịch sử không bao giờ quên, là Hồ Chí Minh đã dựa vào chủ thuyết cộng sản sai lầm và bất nhân, gieo bao thảm họa lên đầu dân Việt, tiêu biểu nhất là cuộc đấu tố cường hào ác bá tại Liên Khu IV năm 1953 và cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc năm 1956, với chủ trương “trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” đã giết hại bao dân lành vô tội. Hàng trăm ngàn người dân đã bị hành quyết một cách dã man duới bàn tay đao phủ của Đảng: “Giết giết nữa bàn tay không ngưng nghỉ, cho ruộng đống lúa tốt tốt thuế mau xong.” Nếu Milosovich của Nam Tư và Sadam Hussein của Irap bị kết án diệt chủng, thì Hồ Chí Minh, với cái chết của gần nửa triệu người trong các đợt đấu tố và cải cách ruộng đất, cũng đáng được liệt vào hàng ngũ những tên tội phạm phi nhân bản đó.

    Viết đến đây, tôi cảm nhận rằng, lịch sử còn diễn biến, và giòng lịch sử quả phức tạp và uyển chuyển. Nhưng rồi, trước sau, mọi sự thật lịch sử cũng sẽ được phơi bày. Mọi phê phán vội vàng có thể thiếu khách quan và chuẩn xác. Nhưng người viết có thể cảm nhận rằng, Hồ Chí Minh không phải là thần tượng, mà chỉ là một huyền thoại hay đúng hơn, một huyễn tượng. Cảm nhận như thế, tôi liên tưởng ngay tới Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Sài Gòn, trong nỗ lực phế bỏ huyền thoại Hồ Chí Minh. Trong lúc chờ xem cuốn phim tài liệu “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” do Phong Trào thực hiện và phổ biến, người viết xin mượn lời Bùi Tín trong cuốn Về Ba Ông Thánh để kết bài nhận định này: “Xin chớ coi ông là một ông thánh, vì ông không phải là thánh.”

    Ngô Đức Diễm

    Trả lờiXóa
  3. Nặc danh9/1/09 12:39

    Sự Thật Về Hồ Cáo Là Ai????

    Xin kính gửi đến toàn thể quý vị lời đề nghị của báo Tiền Phong. Chúng tôi tha thiết xin quý vị hãy giúp các bạn trẻ tại Việt Nam trong việc “nâng cao sự hiểu biết về thân thế và sự nghiệp (THẬT SỰ) của Hồ Chí Minh”. Sau đây là sự hiểu biết tổng quát của giới trẻ chúng tôi tại hải ngoại về Hồ Chí Minh. Xin nhờ anh Nguyễn Thế Vinh thuộc báo Tiền Phong, Trung tâm thông tin (Ban Khoa giáo Trung ương) và công ty NetNam đăng hộ trong trang Web “Bác Hồ với tuổi trẻ” của mấy anh.

    Nghĩ đến đâu viết đến đấy, có lẽ không gọn gàng cho lắm, xin anh đừng chấp. SỰ THẬT là trên hết phải không anh? Xin chân thành cảm ơn Vọng Trấn Quốc HỒ CHÍ MINH? Tên tục Nguyễn Sinh Cung, đến năm 10 tuổi trở thành Nguyễn Tất Thành Cha là Nguyễn Sinh Huy, say rượu, ra lệnh đánh phạm nhân là Tạ Đức Quang gây ra án mạng, bị giáng chức xuống 4 cấp và bãi chức Tri huyện Bình Khê (tỉnh Bình Định - ngày 17.09.1910). Phải bỏ xứ vào tận miền Tây Nam Việt để tìm kế sinh nhaị Gia đình tan nát, cha bị án mất chức, Nguyễn Tất Thành phải bỏ học, giải quyết cuộc sống tạm thời, cho bản thân và khả dĩ giúp đỡ gia đình. Đó là ý nghĩa của đơn xin vào học Trường thuộc địa mà Nguyễn Paul Tất Thành đã gửi cho Tổng trưởng bộ thuộc địa và Tổng thống Pháp vào ngày 15.09.1911 ngay khi tới Marseille .

    Đơn xin bị khước từ, mộng làm quan (thuộc địa) bất thành, làm nghề sửa ảnh tại Paris để gửi tiền về cứu đói gia đình. Tại Paris, cuỗm bút hiệu chung “Nguyễn Ái Quốc” của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền tại Pháp (thuộc “Đồng bào Ái hữu hội”, đến năm 1914 đổi ra thành “Hội những người An-nam yêu nước). Bắt đầu hoạt động chính trị vào tháng 12 năm 1917. Lần lượt trở thành đảng viên đảng xã hội Pháp, đảng cộng sản Nga và đảng cộng sản Trung Quốc. Suốt đời cung cúc tận tụy cho nhiệm vụ quốc tế vô sản, trung thành với tư tưởng Mác-Lê, vận dụng công cuộc đấu tranh cho dân chủ dân tộc để đi đến xã hội chủ nghĩa ngoại lai, thực hiện cách mạng thế giới vô sản. Bán cụ Phan cho mật thám Pháp để lấy 100 ngàn đồng (1925).

    Những năm ở Trung Quốc, chiêu dụ thanh niên Việt Nam tại Trung Quốc theo học trường Hoàng Phố chuyển qua cộng sản. Thông báo cho Pháp bắt những ai khước từ. Văn khố lưu trữ tài liệu của các “công dân quốc tế” ở Mạc Tư Khoa đã phá vỡ “huyền thoại của con người suốt đời thờ chủ nghĩa độc thân khắc kỷ, để chuyên phục vụ cho quốc gia dân tộc” : mối tình đơn phương với cô đầm tên Bourdon tại Paris, người vợ Nga tại Mạc Tư Khoa, thiếu nữ Tàu tên Lý Sâm tại Hương Cảng, một thiếu nữ Tàu khác tại Vân Nam (do tướng Long Vân cung ứng), vợ chính thức Nguyễn Thị Minh Khai, bí danh Phan Lan tại Mạc Tư Khoa (1934), tán tỉnh vợ chưa cưới của Châu Ân Lai, vô số nữ “cần vụ”.

    Ngoại trừ Nguyễn Thị Minh Khai, những người đàn bà của Hồ Chí Minh đều bị thủ tiêu để giữ tròn hình ảnh “không vợ con, tận tụy lo việc nước việc dân”. Điển hình là vụ bức tử bà Hồ Chí Minh, tên Nguyễn Thị Xuân, phục vụ “Bác” vào đầu năm 1955 và sinh được một cậu con trai vào năm 1956, được “Bác” đặt tên Nguyễn Tất Trung. Cô Xuân bị đánh vỡ sọ chết bằng búa vào ngày 12.02.1957, xác để ở bệnh viện Phủ Doãn. (Năm 1969, Hồ Chí Minh chết, Thư ký riêng Vũ Kỳ đem Nguyễn Tất Trung, con trai của Minh Xuân và Hồ Chí Minh về làm con nuôi, đặt tên mới là Vũ Trung)

    Nguồn gốc cái tên Hồ Chí Minh như sau : 1942, dưới tên Hồ Quang, Lý Thụy (một bí danh khác của HCM) sang Trung Quốc vận động đ-ảng cộng sản Trung Quốc giúp đỡ cho phong trào giải phóng. Và để tránh sự phát hiện của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, tìm tên mới, có liên quan đến người vợ Nguyễn Thị Minh Khai mới mất - người đàn bà để lại dấu ấn tình cảm sâu đậm nhất trong tâm khảm họ Hồ- làm kỷ niệm (Minh Khai bị Pháp xử bắn vào tháng 8.1941, sau vụ bạo động 1940 thất bại tại miền Nam). Nên Hồ Quang đổi chữ Quang ra chữ Minh (2 từ gần đồng nghĩa), rồi thêm chữ Chí = Hồ Chí Minh, để nói lên tâm tình của ông dành cho Minh Khai là “trọn vẹn”, “đến nơi đến chốn”. Về nước phát động kháng chiến giành độc lập, noi gương Staline, Mao “sùng bái cá nhân” bằng cách tự xưng với dân là “Bác”, là “Cha già dân tộc”. Chia đôi đất nước vào năm 1954 và xúc tiến cuộc xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực. Tác giả của 7 triệu xác đồng bào qua việc xua quân “cầm AK đi mở nước, sinh Bắc tử Nam” quay mũi súng “giải phóng” cho đồng bàọ Thủ phạm của hàng trăm ngàn đồng bào vô tội miền Bắc qua vụ cải cách ruộng đất vào giữa thập niên 50, song trút trách nhiệm cho kẻ khác với những giọt nước mắt cá sấu.



    Người chịu trách nhiệm cho những vụ án oan trái mà điển hình là vụ án văn học Nhân Văn Giai Phẩm và vụ án chính trị Xét lại, chống đảng. Cả đời không hề có tư tưởng nào cả ! Khẩu hiệu trước đây của CSVN để huấn dụ cán bộ là “chủ nghĩa Mác-Lê, tư tưởng Mao Trạch Đông, tác phong Hồ Chủ Tịch”. Khi được hỏi tại sao Hồ Chí Minh không viết ra những suy nghĩ vĩ đại, ông trả lời là đã có Staline và Mao Trạch Đông viết ra rồị Thậm chí câu “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” cũng là ăn cắp câu “Government of the people, by the people, for the people” của Tổng thống Abraham Lincoln trong bài diễn văn đọc tại Gettysburg vào năm 1863. Đấy là lý do mà UNESCO đã từ chối lời xin hỏi của Hà Nội làm lễ kỷ niệm 100 năm sinh nhật Hồ Chí Minh như một danh nhân thế giới vào năm 1990. ”Sự nghiệp văn chương” duy nhất có chăng là cuốn sách tự bốc thơm “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch” vào mùa xuân năm 1948 với bút hiệu Trần Dân Tiên! Vào ngày 2.9.1969, đi gặp “cụ Các Mác, cụ Lằnin và các vị cách mạng đàn anh khác”.

    Di chúc (tuyệt phẩm này được viết đi viết lại từ ngày 10.5.1965) thỉnh cầu rằng : ”... chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân. Tôi yêu cầu thì hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng”. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.á Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. 1 hộp cho miền Bắc. 1 hộp cho miền Trung. 1 hộp cho miền Nam. Đồng bào mỗi miền nên chọn 1 quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơị Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồị Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm...” Bác Hồ ta cao thượng là thế đấy : đã bảo “khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân” mà không chịu một nấm đất giản đơn (tại nơi sinh quán Nghệ Tĩnh chẳng hạn) cho dân nhờ. Mà đòi phải được “hỏa táng”, tốt hơn nữa là... “điện táng” (...”vệ sinh” hơn!) Xong rồi đem bỏ vàọ... 3 cái hộp (phải bằng... “sành” mới xong!), bắt mỗi miền phải nhận một cái : như thế chắc ăn là cả nước sẽ phải làm tang lễ?.

    Bảo là khỏi “tốn đất ruộng” (để làm một tấm bia), nhưng Bác đòi tớị.. 3 quả đồi để xây 3 cái mả ! Như thế chưa xong, Bác đòi xây thêm... 3 “ngôi nhà rộng rãi, chắc chắn”. Lỡ may có... “người đến thăm viếng”, phải sách hoạch chương trình “trồng cây”, với điều kiện mỗi người phải trồng đến... “vài cây”, ngõ hầu mấy chục năm sau sẽ thành 3 cánh rừng u minh, 3 “lăng miếu” ngàn đời của Hồ Chủ Tịch khắp miền đất nước?!? Nếu Hồ Chí Minh cần kiệm công chính, thì Ông Trời quả chí công vô tư : di chúc đã không được đám hậu duệ tuân theo, mà thâm ý phơi thây xú uế nghìn thụ Tựu trung : Khi sinh tiền, là cha đẻ của chế độ toàn trị tại Việt Nam, dựa trên chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp.

    Sau khi chết, sự nghiệp của ông để lại là : đám tài phiệt đỏ, đặc quyền đặc lợi, mặc tình vơ vét,á trại tù cải tạo, vùng kinh tế mới, cải tạo công thương nghiệp, vượt biển bán chính thức thu vàng, buôn lậu, tham nhũng, bán lãnh thổ, nhượng lãnh hải cho kẻ thù phương Bắc. Là điểm dựa cuối cùng để những người cộng sản cuối cùng của bạo quyền đỏ duy trì quyền lực hầu tiếp tục cai trị đất nước với cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Để họ tiếp tục dựa vào các cơ quan đàn áp (quân đội và an ninh) để duy trì quyền lực. Để vơ vét cạn mòn đất nước. Để từ chối quyền tự do của công dân, hô hào nguy cơ “diễn tiến hòa bình” để đàn áp cao trào dân chủ ở trong nước. Đất nước có được xây dựng lại đẹp hơn 10 lần hơn như lời Hồ Chí Minh đã từng hứa hẹn? Hay là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới hiện nay?

    Sau sự sụp đổ của khối cộng sản tại Đông Âu và Liên Xô, cộng sản Việt Nam mất chỗ dựa và phải áp dụng chính sách mở cửa nhằm cứu vãn một nền kinh tế và cơ cấu chính trị trong giai đoạn khủng hoảng trầm trọng. Chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây sang nền “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự quản lý của Nhà nước và do đ-ảng lãnh đạo”, một phương thức kinh tế mà chính Nhà nước và đ-ảng không hiểu là gì! Chủ trương “Trăm năm trồng người” (ăn cắp của Quản Trọng) của Hồ Chí Minh đến đâu rồi? Hay sau hàng chục năm tiến thẳng xuống xã hội chủ nghĩa, người vẫn chưa được làm người, tuổi trẻ bị nhồi sọ, phá hủy trồng ngược với chính sách ngu dân, cả nước lâm vào cảnh khủng hoảng toàn diện, trên tất cả các lãnh vực kinh tế xã hội, tinh thần và đạo đức, tư tưởng và chính trị ? ”Bác Hồ” có đẹp như...

    Trần Dân Tiên ngày xưa và một thiểu số cam chịu kiếp mù điếc ngày nay bái tụng không? Hay là một con người mà cuộc đời là cả một chuỗi dài thủ đoạn, trí trá và cướp giựt : cướp tên họ, cướp chính quyền, cướp thời cơ, cướp danh nghĩa, cướp chính nghĩa, rồi cướp cả tài sản lẫn xương máu nhân dân. Là hiện thân của Tội Ác trước lịch sử dân tộc Việt Nam. Là tội đồ của dân tộc Việt Nam Tuổi trẻ trong trắng và vụng dại, nhưng không mạt nhược và ngu hèn. 3/5 nhân dân Việt Nam là người trẻ. Là những người sẽ Viết Lại Lịch Sử, Làm Lại Tương Laị Dẫu với muôn ngàn tiêm thuốc chữa, thây ma vẫn hoàn thây mạ Và sẽ phải đền tội cùng Đồng Bào, Đất Nước. Với phường bán nước, hại dân.

    Tuổi trẻ Việt Nam Vọng Trấn Quốc

    Trả lờiXóa
  4. Nặc danh9/1/09 12:41

    Ai giết Hồ Chí Minh



    Sáng ngày 2-9-1969, trời miền Bắc Việt Nam u ám, nhiều mây, có mưa nhẹ lác đác nhiều nơi. Người dân nôn nao đón chờ "thông điệp Quốc Khánh" của Hồ Chí Minh. Không khí chính trị ngột ngạt do sự leo thang chiến tranh của tân tổng thống Mỹ Nixon càng làm cho cán bộ đảng viên và thường dân miền Bắc hoang mang khi nghe bài diễn văn vắn tắt, tầm thường-nếu không muốn nói là nặng mùi tử khí-của Phạm Văn Ðồng báo hiệu một biến cố bất thường đã xảy ra. Người ta sầm xì: "Hồ Chí Minh đã bị giết?"Sau đó ít lâu, nhà cầm quyền mới thông báo "Hồ Chủ Tịch đã mất ngày mồng 3 tháng 9."Mãi hàng chục năm sau người ta mới dám nói thực là ông Hồ đã chết vào đúng ngày "Quốc Khánh 1969". Hai năm cuối đời ông Hồ thường đau yếu luôn và hay sang Trung Quốc để cho các danh y của Cộng Ðảng xứ này chữa trị. Ông ta cũng mừng sinh nhật cuối cùng (19-5-1969) ở đây luôn, có người cho rằng ông ta muốn qua những tháng ngày cuối đời tại miền đất mà ông đã có những kỷ niệm "tình cảm đầy tính con người" vào những năm 20 và 30 khi ông hoạt động gián điệp cho quốc tế cộng sản và cho việc thành lập và đào tạo đảng cộng sản VN sau này. Nói trắng ra là ông muốn sống lại những giờ phút ái ân với những người đẹp trong dĩ vãng.

    Sử gia Mỹ William Duiker thuật lại rằng nhân chuyến đi chữa bệnh này, ông Hồ còn ngỏ lời với một cán bộ cao cấp địa phương muốn ông này tìm cho một phụ nữ Trung Hoa thật trẻ và đẹp, có lẽ để ông dùng làm thuốc trì hoãn sự lão hóa và đẩy lùi thần chết. Ðồng chí nước bạn và cũng là chỗ tâm giao của ông hỏi "sao đồng chí không lấy một cô Việt Nam có phải dễ dàng không" thì ông bảo: thiếu nữ Việt đều coi ông là Bác cả, khó lắm. Thế là bạn ông đem trình sự việc với thủ tướng Chu Ân Lai. Ông này phán rằng việc hôn nhân của lãnh tụ V.N. phải hỏi ý kiến bộ chính trị Việt Nam. Có lẽ nhóm Lê Duẫn không tán thành, nên chuyện đó chưa đi đến đâu thì ông Hồ đã chết trong sự ngờ vực của người dân miền Bắc. Nhưng rồi chiến cuộc với hàng trăm biến cố khác đã làm cho những chuyện đó rơi vào quên lãng. Cho đến nay không ai còn đặt lại câu hỏi ai giết ông Hồ nữa. Tuy nhiên kẻ viết bài này có thể khẳng định: ông Hồ, -- như một số người thường mô tả là một "nhà ái quốc", một "anh hùng dân tộc", thậm chí "một nhà văn hóa lớn" (1) -- đã bị giết rồi.Và người thủ tiêu họ Hồ không ai khác hơn là "nhà văn hóa" Trần Dân Tiên, tác giả "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch", hoàn tất vào mùa xuân năm 1948 (2). Hơn hai chục năm không ai biết tác giả Trần Dân Tiên là ai. Cho đến khi chiến tranh kết thúc "đảng ta" mới xác nhận đó là "Bác".

    Ðây là một chuyện hy hữu trong lịch sử văn học và chính trị thế giới: Một lãnh tụ chính trị, chủ tịch một nước viết hồi ký để tự ca tụng chính mình. Vũ Thư Hiên, trong cuốn "Ðêm Giữa Ban Ngày" cho rằng đây là một việc "thừa và ngớ ngẩn". Riêng người viết không nghĩ thế. Ðặt sự việc vào bối cảnh chính trị nước nhà trong thời gian ông Hồ cặm cụi nắn nót cho ra đời cuốn sách vô tiền khoáng hậu này thì sẽ thấy ông ta có lý do để làm việc đó. Ông biết rõ đàn em của ông và những tay văn nô dù có khả năng đến mấy cũng không thể làm việc này thay ông được. Là bởi vì trong số các cán bộ cộng sản Việt nam lúc ấy chỉ có ông là người đã được học đến nơi đến chốn và có kinh nghiệm thực hành nhuần nhuyễn nghệ thuật tuyên truyền và khuấy động quần chúng. Ông muốn đem ngón nghề chuyên môn của mình ra làm những công việc sau đây trong kiệt tác tuyên truyền này.

    1. Tạo cho quần chúng Việt Nam một thần tượng để ông có thể nhân danh thần tượng này đẩy toàn dân vào chỗ đạn lửa hòng ông đạt được mục tiêu cuối cùng là nắm trọn quyền bính trong tay

    2. Loại trừ tận gốc rễ những phần tử đối nghịch dám chống lại ông và đảng của ông như các đảng Ðại Việt, Việt Cách, Việt Quốc.

    3.Che giấu bộ mặt thật của ông là một gián điệp quốc tế, tay sai của Quốc Tế Cộng Sản, tức Liên Xô và Trung Cộng.

    Nhưng ông khôn mà không ngoan. Gian xảo quỷ quyệt quá thành ra để lòi đuôi cáo, khiến cho tiếng tăm về lòng ái quốc giả đối của ông bị tiêu ma từ đây. Chúng ta thử xem về chi tiết từng điểm vừa nêu. Trong một nước Á Ðông mà dân trí còn thấp như Việt Nam, vai trò của lãnh tụ, của "minh chủ" rất quan trọng. Nhất là trong chiến tranh thì nó càng quan trọng hơn nữa. Ông Hồ biết rõ nhu cầu đó. Ở Trung Quốc ông đã thấy thần tượng Mao Trạch Ðông làm nên đại sự. Ngay ở Liên Xô, một nước thấm nhuần văn minh phương Tây từ lâu mà vai trò của thần tượng Lênin rồi Stalin cũng còn quyết định sự thành bại của cuộc "cách mạng xã hội chủ nghĩa". Huống chi ở Việt Nam.

    Ông cũng hiểu hơn ai hết rằng lịch sử đã chứng minh mỗi lần có biến, dân nước phải đối đầu với cuộc xâm lăng từ phương Bắc, luôn có một anh hùng trở thành thần tượng cho quân sĩ và nhân dân tôn thờ hòng tuân lệnh xông vào lửa đạn để cứu nước. Ðinh Bộ Lĩnh, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Quang Trung v.v....Ông cũng biết ông không có được những đức tính của những anh hùng dân tộc đích thực như các vị trên vì ông chỉ là một cán bộ của quốc tế cộng sản, có sứ mạng truyền bá chủ nghĩa cộng sản, tranh đấu cho một cuộc cách mạng vô sản trên khắp thế giới, chứ không phải cho nền độc lập quốc gia thực sự. Lênin đã dậy ông, Stalin cũng luôn nhắc lại cho ông rằng cách mạng vô sản thế giới mới là cứu cánh, kháng chiến chống thực dân, dành độc lập quốc gia chỉ là sách lược giai đoạn, do nhu cầu của "thoái trào hay tiến trào cách mạng". Và cũng nhờ đã tiếp xúc với những nhà ái quốc như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường...ông đã biết cách tuyên truyền thế nào để kích động lòng yêu nước của toàn dân hòng chiến thắng.

    Khi gặp sự chống đối của quốc tế (thế giới tự do) và các phần tử, đảng phái quốc gia, vì ông trót để lộ tung tích làm gián điệp cho quốc tế 3 (cộng sản), ngày 5-11-1945 ông đã cho lệnh giải tán đảng cộng sản mà ông đã theo lệnh Liên xô thành lập và thống nhất vào ngày 3-2-1930. Ông biến nó thành hội nghiên cứu Mác Xít. Ðồng thời ông cũng thay đổi hẳn thái độ, cốt tạo cho mình một bộ mặt quốc gia. Mặc dầu vậy, các đảng phái quốc gia, được sự ủng hộ của Pháp và thế giới tự do, vẫn viện dẫn lý do
    ông là cộng sản để chống đối. Mục đích chính của tập sách ông viết dưới bút hiệu Trần Dân Tiên là làm cho đại chúng, quần chúng, nhân dân Việt Nam thấy được "lòng yêu nước, thương dân phi phàm" của ông, thấy được những cử chỉ thái độ bình dân, giản dị, thấy được những đức tính đáng yêu của một nhà cách mạng, biết sống như thường dân, biết chia sẻ những nỗi khổ cực của dân nghèo, để rồi mến yêu ông, tôn thờ ông, sẵn sàng nghe theo lời ông "Vì đảng, vì "Bác" tiến lên" xông vào chỗ chết, hết lớp này đến lớp khác.

    Lúc ấy ông bắt đàn em không được hô "Vì đảng", mà phải hô "vì tổ quốc", để đánh lừa một số người.

    Quá trình đấu tranh gian khổ của ông, vào tù ra khám nhiều lần, thoát chết nhiều lần, có lần đã bị loan báo chết mà không chết, càng làm cho những lời lẽ ông viết ra trong sách có tính thuyết phục. Mấy người biết được rằng những cực khổ hy sinh đó là vì một lý tưởng khác, - -cách mạng vô sản thế giới, theo lệnh quốc tế 3 (cộng sản)--, chứ không phải vì lý tưởng quốc gia dân tộc thuần túy.

    Những ví dụ đầy rẫy trong cuốn sách 167 trang này. Ở đây chúng tôi chỉ xin trích một vài đoạn nhỏ để thấy rõ tác giả đã khéo léo tô điểm cho hình ảnh một lãnh tụ, một thần tượng Hồ Chí Minh như thế nào: (Trang 129):

    Ngày 2-9-1945. Ngày chính phủ Hồ Chí Minh ra mắt nhân dân. Hồ chủ tịch sửa soạn đi dự lễ. Cụ Hồ chợt thấy mình không có quần áo. Về việc quần áo có hai việc đáng kể: (chỉ kể 1. MV) Vừa mới ở rừng về đến Hà Nội, một võ quan ngoại quốc đến chào Hồ Chủ tịch, võ quan này bận quần ka-ki và áo bằng vải dù. Võ quan thú thật là không có áo nào khác. Lập tức chủ tịch cởi áo khoác ngoài và biếu người võ quan ấy (....) Và người võ quan đi ra với bộ quần áo đầy đủ, còn chủ tịch thì suốt ngày mặc áo sơ mi. (....) Trong rừng, Hồ chủ tịch cũng như các chiến sĩ du kích, ai cũng quen bận quần đùi và ở trần. Về Hà Nội Hồ chủ tịch cũng giữ nguyên bộ quần áo khi ở trong rừng. (2 câu này khiến người đọc hiểu rằng ông Hồ về Hà Nội vẫn mặc quần đùi và ở trần!) Người ta đến các hàng tìm kiếm. Cuối cùng người ta tìm thấy một bộ quần áo ka-ki và đôi dép cao su cho Hồ chủ tịch. Ăn mặc như thế, chủ tịch ra mắt đồng bào. (...) một vị chủ tịch khác thường. (Trang 131):

    "Nhưng cảm động hơn cả, là khi nhân dân thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đến, người mà nhân dân hằng mến yêu, khâm phục và kính trọng, và lần đầu tiên nhân dân mới được thấy." (Thực ra lúc ấy chẳng mấy người biết Hồ Chí Minh là ai, chứ đừng nói "hằng mến yêu, khâm phục và kính trọng" MV) (Trang 132): "Trông thấy Chủ tịch đến, nhân dân nhận thấy Hồ chủ tịch giản dị thân mật như một người cha hiền về với đám con. (...)...Chủ tịch trở thành "Cha Hồ" của dân tộc Việt Nam.(Trang 143):

    "99% cử tri ở Hà Nội đã đi bỏ phiếu. Toàn thể bỏ phiếu cho danh sách ứng cử do Hồ chủ tịch đứng đầu. Và gồm có: một kỹ sư thuộc đảng Dân Chủ, một vị học giả, một bác sĩ và một bà, đều không có đảng phái." Câu cuối cho thấy ông Hồ cố hết sức mình chứng minh ông là người vì chủ nghĩa dân tộc, nên được đảng Dân Chủ (phi cộng sản) các nhà trí thức, học giả uyên thâm, và nữ giới, toàn những người không đảng phái ủng hộ đứng chung danh sách với ông. Nhưng sẽ thấy ngay đó chỉ là lời nói xạo, nếu biết được rằng đảng Dân Chủ (của Dương Ðức Hiền, cử nhân luật mới ra trường, Nghiêm Xuân Yêm, kỹ sư), cũng như đảng Xã Hội (của Nguyễn Xiển, kỹ sư khí tượng) lúc ấy chỉ là bình phong của đảng cộng sản. Những người đứng đầu đảng như các ông Dương Ðức Hiền, Trần Ðăng Khoa, hay Nghiêm Xuân Yêm, đều chỉ biết tuân lệnh của những cán bộ cộng sản nòng cốt, tuy bề ngoài chỉ nắm vai phụ, nhưng bên trong lại giữ vai chủ đo! Á.ng, như Phạm Hồng rồi Nguyễn Việt Nam, Phạm Tuấn Khanh...Những lời tuyên bố hay bài nói bài viết của họ đều bị những tên này duyệt trước.(Trang 162):

    "Nhân dân VN muôn người như một nghe theo lời Hồ chủ tịch, vì họ hoàn toàn tin tưởng ở Hồ chủ tịch. Không có gì so sánh được với lòng dân VN kính mến tin tưởng lãnh tụ Hồ Chí Minh" (Trang 164): "Chủ tịch không bao giờ nghĩ đến mình. Người chỉ nghĩ tới người khác, nghĩ đến nhân dân."

    Tất cả 2 trang 163 và 164 ông chỉ dành để viết những lời tự ca tụng tương tự như thế, rồi đến cuối trang 166 là trang áp chót ông hạ một câu xanh rờn: "Nhân dân gọi chủ tịch là Cha già của dân tộc," Nếu để ý thời điểm mà cuốn sách được viết xong là mùa xuân năm 1948, thì thấy lúc đó chưa có những tác phẩm ca tụng họ Hồ, như những cuốn của Trường Chinh (3), Phạm Văn Ðồng (4), Võ Nguyên Giáp (5), Văn Tiến Dũng (6), Hồng Hà (7), để chỉ nêu mấy tên tuổi quan trọng trong số đàn em của ông Hồ. Về các tác giả ngoại quốc, cũng chưa có những cuốn hồi ký hay tiểu sử do các nhà báo hay sử gia tên tuổi viết, chẳng hạn Jean Lacouture, Jean Sainteny, Devillers, Shaplen, Stanley Karnow, David Halberstam, Neil Sheehan, W. Duiker v.v.... Ðiều đó cho thấy gì? Nó chứng tỏ Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh là người mở đầu cho việc sùng bái cá nhân ông, và những kẻ viết sau về đề tài này đã lấy hứng và theo tài liệu của ông mà viết. Kể cả những tác giả ngoại quốc nổi tiếng sau này.

    * B

    Về các đoàn thể tổ chức và đảng phái chống Việt Minh lúc đầu (1945-46) tác giả có nói qua đến chính phủ Trần Trọng Kim mà ông bảo được Nhật "sai tổ chức chính phủ và quân đội bù nhìn để đi với quân đội Nhật đánh Việt Minh." (trang 116) và "cùng với phát xít Nhật tuyên truyền kịch liệt chống Việt Minh" (tr. 117). Riêng đối với các tổ chức Việt Cách của Nguyễn Hải Thần và Ðại Việt hay Việt Nam Quốc Dân Ðảng của Nguyễn Tường Tam thì Trần Dân Tiên đã dùng những lời lẽ nặng nề thô bỉ nhất. Có lẽ vì các tổ chức chính trị này đã lên án Việt Minh là cộng sản và đã có những hành động chống đối quyết liệt nhất. Và cũng vì họ tố cáo một cách hữu hiệu nhất tính chất lệ thuộc của Việt Minh vào hệ thống quốc tế 3 (cộng sản). Vì vậy ông ta cố hạ uy tín và làm nhục đích danh hai lãnh tụ Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam với những lời lẽ như sau: (trang 116):

    "Lúc đó bọn Nguyễn Tường Tam theo Nhật, ngược đãi người Pháp (8) sát hại Việt Minh và bắt cóc, đi tống tiền" (Trang 160):

    "Bô-la-e tìm những tên thân Nhật: Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Văn Sâm, giúp bọn này tổ chức "mặt trận quốc gia" để chống chính phủ Hồ Chí Minh". Nhưng âm mưu của Bô-la-e đã thất bại vì ba "ngài" này đã nổi tiếng là thành tích bất hảo" (Ở hai đoạn vừa nêu xin lưu ý mấy tiếng tống tiền và thành tích bất hảo. Có chỗ tác giả còn tố cáo Nguyễn Tường Tam bỏ trốn mang theo quỹ của bộ (ngoại giao) MV) (Trang 141, đặc biệt chú ý trang này):

    "Hồ chủ tịch đã tìm ra một giải pháp: nhường cho Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam bảy mươi (70) ghế mà chúng sẽ chia nhau hoặc bán cho người nào xuất tiền mua. (xin lưu ý mấy chữ bán và mua và tiền. MV)

    "Ðối với bọn này, nhân dân rất khinh bỉ. Người ta hỏi tại sao lại để cho những hạng người này ở trong quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam? Ðây là một sự nhục nhã cho chế độ dân chủ mới v.v...Hồ chủ tịch rất hiểu lòng tức tối của nhân dân đối với các "nghị viên" này.

    "Hồ chủ tịch giải thích cho nhân dân một cách rất giản đơn. Chủ tịch nói: "Muốn giồng khoai, giồng lúa, người ta phải dùng phân. Muốn đi đến dân chủ mà tất cả chúng ta đều muốn, đôi khi chúng ta phải làm những việc chúng ta không vui lòng làm".

    (Nói như vậy chẳng khác gì HCM bảo Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam và "đồng bọn" chỉ là những cục phân! MV)

    Thật không còn lời lẽ nào để hạ nhục đối phương hơn. Cá nhân kẻ viết bài này vốn mến văn tài của Nhất Linh, nhất là trong những tác phẩm ông viết chung với Khái Hưng, và khâm phục lòng yêu nước của lãnh tụ Nguyễn Tường Tam. Nhưng tôi bắt buộc phải mạn phép vong linh ông để nói lên điều sau đây. Khi chính quyền đệ nhất Cộng Hòa có ý định đem ông ra tòa về tội âm mưu lật đổ chính quyền, ông đã tuyên bố một câu đi vào lịch sử: "Chỉ có lịch sử xét xử được tôi" rồi tự tử. Bác sĩ Trần Kim Tuyến và giáo sư Cao Thế Dung, trong tác phẩm "Làm thế nào để giết một tổng thống" đã viết rằng khi nghe tin ông Nguyễn Tường Tam tự tử, tổng thống Ngô Ðình Diệm đã hết sức buồn rầu suy tư nên đã phải lên Ða Lạt nghĩ nhiều ngày cho khuây khỏa. Vì nói cho cùng tổng thống chỉ muốn sự việc được đưa ra ánh sáng công lý chứ không muốn hãm hại Nhất Linh. Trong những nhà trí thức bị tình nghi là mưu phản sau này có ai bị xử tử hay bi án nặng đâu. Ngay kẻ mưu sát tổng thống tại hội chợ Ban Mê Thuột bị bắt quả tang mà ông còn tha mà! Tên này sau khi Sài Gòn thất thủ đã nghiễm nhiên trở lại với cương vị một cán bộ cộng sản trong hàng lãnh đạo tỉnh Tây Ninh như nhiều người biết. Nếu thần tượng Hồ Chí Minh còn đó để cho các nhà viết sử của kẻ chiến thắng cứ tiếp tục như hiện nay, với những hàng chữ nhục mạ các lãnh tụ quốøc gia như tên Trần Dân Tiên, tức Hồ Chí Minh này đã làm đối với Nguyễn Tường Tam, thì rồi con cháu ta về sau sẽ nghĩ gì về Nguyễn Tường Tam và các lãnh tụ quốc gia khác?Vì vậy thiết nghĩ những đồng chí của Nguyễn Tường Tam trong các đảng Ðại Việt và Việt Nam Quốc Dân Ðảng (và nói chung cả những ai tự nghĩ mình là người quốc gia, chống cộng) hãy tập trung nỗ lực vào việc lột mặt nạ ái quốc của Hồ Chí Minh, thay vì cứ các nhà lãnh đạo quốc gia không đồng chính kiến với mình mà vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết, bôi nhọ lẫn nhau.

    Của đáng tội, công bình mà nói, trong việc thành lập chính phủ liên hiệp đầu tiên, một số đảng phái quốc gia đã mắc mưu của ông Hồ, ngửa tay nhận lấy 70 ghế ngồi trong "quốc hội" mà không được bầu, trong khi các đại biểu của Việt Minh thì lại được bầu (dù cho cuộc bầu cử đã bị cán bộ cộng sản sắp xếp và gian lận). Nhờ thế ông Hồ mới có cớ sỉ nhục mà đối phương đành im lặng. Những ghế trong chính phủ cũng được "chia" cho các đảng phái quốc gia trong âm mưu đó.Và cũng phải công nhận người đã dám cương quyết từ chối không chịu nhận chức bộ trưởng nội vụ trong cái chính phủ đó là ông Ngô Ðình Diệm được coi như khôn ngoan, sáng suốt, vì sớm hiểu rõ bản chất và mưu mô xảo quyệt của cộng sản ngay từ đầu. Tiếc rằng con người hiếm hoi am hiểu cộng sản đó đã phải hy sinh oan uổng, khiến cho hàng ngũ quốc gia suy yếu rồi thất bại.

    Trước khi sang đoạn 3, chúng tôi đề nghị những ai còn ngưỡng mộ nhà văn Nhất Linh và cụ Nguyễn Hải Thần hãy nghĩ tới những dòng chữ trên của Trần Dân Tiên, tức Hồ Chí Minh mà đừng vô tình hay hữu ý gián tiếp tiếp tay cho luận điệu tuyên truyền của cộng sản rằng "Hồ Chí Minh là đại anh hùng dân tộc", như một số cơ quan truyền thông ở Quận Cam và Houston vừa làm khi cho đăng nguyên văn (mà không bình luận ) bài "Huyền Thoại Hồ Chí Minh" của Lữ Phương (tháng 10- và 11-2001).

    * C

    Ðiểm 3, mà cũng là điểm chính, chúng tôi có ý bàn ở đây là HCM đã cố gắng núp dưới một bút hiệu vô danh tiểu tốt để cố làm cho quần chúng nghĩ rằng ông chỉ một lòng vì tổ quốc, vì dân, vì nước, chứ không phải vì quyền lợi cá nhân, hay chịu sự chi phối của Liên Xô, tranh đấu cho lý tưởng quốc tế vô sản nào khác. Và ông có đạt được mục đích này không? Trước hết phải công nhận bước đầu ông đã thành công, khi chưa ai khám phá ra Trần Dân Tiên chính là ông.

    Ðọc Trần Dân Tiên, người dân chất phác liền tin HCM là người yêu nước. TDT không nói gì đến liên hệ mật thiết giữa Nguyễn Ái Quốc với quốc tế 3, tức sau này là Liên Xô. TDT có nói đến việc Nguyễn Ái Quốc ca tụng Liên Xô, "tuy chưa phải là thiên đàng cho mọi người, nhưng quả thực là thiên đường cho thiếu nhi" (trang 68).Nguyễn Ái Quốc không ca tụng nhiều mà chỉ nói phớt qua mấy hàng về chế độ xã hội của nước Nga rồi viết: "Ðây là một chế độ rất hay". (tr. 64). Nhưng chỉ có thế. Ông không bàn kỹ về chế độ cộng sản hay chủ thuyết Mác. Trái lại còn có chỗ ông thú nhận mình chẳng hiểu biết nhiều về chủ nghĩa này. (tr...49! .), thậm chí nơi trang 35 TDT còn mượn lời một người quen của "ông Nguyễn" để xác quyết: "Lúc ấy ông Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả vì tổ quốc; nhưng ông Nguyễn lúc đó rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là Công hội, thế nào là bãi công và thế nào là chính đảng."

    TDT đã bênh vực HCM nhiều nhất, khi viết rằng ông Nguyễn bỏ phiếu cho Quốc Tế 3 mà không bỏ phiếu cho Quốc Tế 2 chỉ vì QT3 có nói đến vấn đề thuộc địa (trang 52). Nghĩa là Nguyễn Ái Quốc, tức HCM vào đảng cộng sản chỉ vì thấy đảng đó tranh đấu cho quyền lợi các dân tộc sống dưới ách thực dân. Còn luận cứ nào hùng hồn hơn để chứng minh Nguyễn Ái Quốc là người yêu nước? Nhất là khi tác giả cố tình bỏ qua không nhắc tới những liên hệ khác của NAQ với đảng cộng sản LX và đảng c.s. Trung Quốc.

    Khi mà cộng sản xua quân vào chiếm Saigon đặt cả nước dưới sự thống trị của họ, thì ta mới hiểu HCM đã thành công đến mức nào trong âm mưu che giấu lý lịch và bộ mặt thật của ông. Nhưng khi đã biết TDT là chính HCM thì những âm mưu thầm kín nhất của ông dần dần bị phơi bầy. Dĩ nhiên với điều kiện chúng ta phải dựa vào những lời của ông trong tập sách này và đối chiếu nó với những tài liệu chính thống khác, gồm những lời phát biểu của ông, những sử sách ghi lại hành động của ông, nhất là của chính những cán bộ trung thành với ông vô tình tiết lộ trong các tác phẩm của họ, như Hồng Hà, Hoàng Văn Hoan vân vân.... Trong khuôn khổ một bài báo, chúng tôi sẽ chỉ xin dẫn chứng của hai nhân vật này một cách tượng trưng.

    Có một điều rất buồn cười khi đọc Trần Dân Tiên, là rất nhiều chỗ ông ta nói đến "bí mật" và "mất tích", "mất đầu mối". Nhưng nếu suy nghĩ thì thấy không buồn cười được mà phải tự hỏi: "Có âm mưu gì đây?"vì những chỗ mất tích và bí mật đó thường trùng hợp vào thời gian hành tung của HCM lệ thuộc vào Liên Xô cần được giấu nhẹm.

    Nếu TDT là người khác HCM thì có thể chấp nhận là chuyện đó anh ta không biết thực. Nhưng đã là HCM viết tiểu sử của mình thì không thể không biết. Ðối với chính mình thì sao lại bí mật, sao lại mất đầu mối được, nếu không phải là lúc đó tác giả (HCM) muốn giấu một cái gì không tốt đẹp cho việc thần thánh hóa bản thân? Hãy chỉ nêu vài ví dụ:

    TDT viết Quốc đến Matxcơva lần đầu để được gặp Lênin và sửng sốt khi biết tin Lênin đã chết, không còn gặp được. Nhưng Hồng Hà, một tay viết sử chính thức của "Ðảng ta" thì viết rõ NAQ đến đó là để dự đại hội Nông Dân, lúc ấy Lênin hãy còn sống. Trang 24, HH viết: "Anh (Quốc) ra ga xe lửa, đáp tầu đi Mát-xcơ-va, và nhiệm vụ mới đang chờ anh: chuẩn bị dự hội nghị Quốc Tế nông dân được triệu tập theo sáng kiến của Lênin." Khi Lênin chết, NAQ đã đang có mặt ở LX, trong khách sạn Luých (Luxe): Trang 80 Hồng Hà viết: "...Như mọi đồng chí khác, anh (Nguyễn) bỏ dở bữa ăn. Các tầng gác trong khách sạn trầm lặng hẳn đi..."

    Và còn không biết bao nhiêu việc khác tại LX và Trung Quốc, TDT đã lờ hẳn đi không hề nhắc tới chỉ vì nó có lên hệ đến công tác mật của một cán bộ Quốc Tế c.s.. Ví dụ TDT không nói gì đến việc Quốc là cán bộ của bộ Phương Ðông, thuộc Quốc Tế Cộng sản. Nhưng trong sách của Hồng Hà ("Bác Hồ trên đất nước Lênin"), trang 107 có phóng ảnh của giấy chứng nhận do Pê Tơ Rốp, bí thư của bộ này ký xác nhận rằng "Ðồng Chí Nguyễn Ái Quốc là cán bộ của bộ Phương Ðông, ban chấp hành Quốc Tế Cộng Sản". Trang 128 và 129 SÐD còn có ảnh NAQ với lời ghi : "Ðồng chí Nguyễn Ái Quốc tại đại hội 5 Quốc Tế c.s." và ảnh giấy mời đ/c NAQ dự hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành QT c.s. mở rộng 1924. Về việc ông làm việc cho phái bộ Borodin của Liên Xô cạnh Quốc Dân Ðảng Trung Quốc, TDT đã nói dối như sau: (trang 69 và 71) "Bây giờ ông Nguyễn ở Trung Quốc, ông bắt đầu đi bán thuốc lá và bán báo để sống...(....) "Ðọc quảng cáo trên tờ "Quảng Châu nhật báo", ông tìm đến làm phiên dịch cho ông Bô Rô Ðin, cố vấn chính trị của bác sĩ Tôn Dật Tiên và của chính phủ Quảng Châu.." Nhưng Hồng Hà thì lại viết (trang 148 SÐD):

    "Cương vị của anh trong Quốc Tế c.s. và nhiệm vụ công tác của anh ở Quảng Châu chỉ có Borodin và vợ là đ/c Pha Nhị A Xê Mê Nô Vô Na Borodina biết. Về công khai (nghĩa là có mặt bí mật. MV), anh là cố vấn riêng và người phiên dịch của đ/c Borodin, đồng thời là phóng viên của hãng Roxta. Trong cơ quan của Borodin, phủ đại soái LX hoặc lãnh sự quán LX, làm việc giữa tập thể các đồng chí chuyên gia Xô Viết, anh Nguyễn mang thêm một tên Nga là Ni-Lốp-Xkỵ Nhưng các bạn quen gọi anh là đồng chí Lý" (tắt của Lý Thụy MV).

    Việc thành lập và thống nhất đảng cộng sản Ðông Dương hết sức quan trọng đối với mọi đảng viên. Nhưng trong cuốn sách của ông dưới bút hiệu TDT ông Hồ đã chỉ nói phớt qua vài hàng và nhắc lại như chính ông là người hô hào thống nhất, chứ không phải do chỉ thị của Quốc Tế c.s. (trang 86). Ông còn cẩn thận nhắc lại chính cương của đảng là "Dân tộc độc lập, Nhân dân tự do, Dân chúng hạnh phúc" na ná như chủ nghĩa tam dân của bác sĩ Tôn Dật Tiên người sáng lập Trung Hoa Quốc Dân Ðảng nữa.Nhưng ta hãy xem Hồng Hà thuật lại việc thống nhất đảng ra sao và ông Hồ đã nói gì trong dịp này (tr.237):

    "Anh xúc động mở đầu lời kêu gọi nhân dịp thành lập đảng: "Nhận chỉ thị của Quốc Tế c.s. giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và thấy có nhiệm vụ phải gửi tới anh chị em và các đồng chí lời kêu gọi này....Ðảng c.s.VN đã được thành lập. Ðó là đảng của giai cấp vô sản. Ðảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng VN đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chi em bị áp bức, bóc lột."(Ðáng chú ý là ông Hồ không nói gì đến dân tộc đang bị ách đô hộ của thục dân .MV)

    Trong dịp này (18 năm trước khi ông viết hồi ký với bút hiệu TDT) ông đã xác nhận ông theo chỉ thị của QT c.s., tức Ðệ Tam Quốc Tế, lúc ấy đã do Liên Xô dưới thời Stalin hoàn toàn chi phối. Trong cuốn "Bước Ngoặt Vĩ Ðại của lịch sử đảng c.s. VN của Lưu Quý Kỳ xuất bản cuối thập niên 50, hay đầu thập niên 60, còn có in cả phóng ảnh bức thư viết bằng tiếng Pháp của QTCS.

    Nếu cứ tin TDT thì ông Hồ chỉ muốn lập một đảng cách mạng quốc gia, có thể lấy tên gì cũng được chẳng hạn "Hội VN thanh niên cách mạng đồng chí" như trước hoặc "Ðảng c.s." như ngày nay"...(nguyên văn)

    Trong "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch", ông Hồ dưới bút hiệu TDT đã mô tả ông như người yêu nước muốn đoàn kết mọi thành phần quốc gia dân tộc chống thực dân. Nhưng Hồng Hà trong "Bác Hồ trên đất nước Lênin" đã trưng lại nguyên văn lời lẽ của ông nhắn Nguyễn Thị Minh Khai và Tú Hưu phải tiêu diệt bọn Tờ Rốt Kít:

    "Hai là, khắp nơi và cả ở VN, bọn Tờ Rốt Kít đã bộc lộ chân tướng phản động của chúng. Ðảng ta phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa Phát Xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị. Không được có thỏa hiệp nào, nhượng bộ nào với chúng." (SÐD trang 314)

    Chính vì cái chủ trương đó mà về sau những Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Tạ Thu Thâu và rồi cả Dương Bạch Mai là những người có xu hướng đệ tứ (tức thuộc nhóm Tờ Rốt Kít) đều bị chết thảm.

    Ai cũng biết Trốt Xky là một trong những lãnh tụ cộng sản lớn nhất thời Lênin. Sau khi Lênin chết thì ông trở thành đối thủ của Stalin và đã bị Stalin trục xuất rồi cho người ám sát. Khi Nguyễn Ái Quốc chủ trương tiêu diệt (về chính trị?) những người thuộc nhóm này, chính là vì ông ta đã lệ thuộc hoàn toàn vào chính sách đàn áp dã man của Stalin. Không có cách gì chạy tội được.

    Tuy về đảng cộng sản VN trần Dân Tiên chỉ nói phớt qua và không cho biết ông Hồ nắm chức vụ gì quan trọng trong đó. Nhưng về mặt trận Việt Minh (là một tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản, phát xuất từ tổ chức yêu nước của ông Hồ học Lãm với danh xưng "Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh hội", và chính ông HHL đã gọi tắt là Việt Minh, như sẽ nói kỹ sau đây) thì được TDT nói đến nhiều hơn và còn xác định ông Hồ là lãnh tụ Việt Minh (trang 103)Chủ trương của Việt Minh được TDT ghi rõ:

    "Nhân Dân VN hãy đứng về phía Ðồng Minh! Ðánh đuổi Nhật-Pháp, tiễu trừ Việt gian! Ðấu tranh cho độc lập của tổ quốc! Người VN chúng ta hãy đoàn kết lại"

    Vì thấy rõ triển vọng chiến thắng của Ðồng Minh nên ông Hồ đã đứng hẳn về phe Ðồng Minh, lúc ấy có cả Liên Xô. Ông củng cố lấy lòng Mỹ bằng cách đích thân đi bộ sang Trung Quốc, để trao cho nhà chức tranh quân sự Mỹ tại đây một phi công Mỹ tên Shaw mà du kích quân,hay đồng bào cứu được hay bắt được? Lời hô hào của ông được nhân dân hưởng ứng vì những lý do sau đây:

    Thứ nhất ai cũng thấy rõ chủ trương đứng về phía Ðồng Minh là thượng sách. Thứ hai người Việt còn đang thù Nhật và muốn thoát ách đô hộ của thực dân Pháp. Thứ ba cái tên Việt Minh, viết tắt của "Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh hội" là bắt nguồn từ một tổ chức của những người yêu nước đang lánh nạn, hoạt động ở Hoa Nam, đứng đầu là nhà cách mạng không cộng sản Hồ Học Lãm. Uy tín của ông này lúc ấy rất lớn trong cộng đồng người Việt ở đây. Có người còn nói chính cái tên Hồ Chí Minh cũng là bí danh của ông Hồ Học Lãm. Như vậy ông Hồ đã mượn khẽ uy danh và bí danh của nhà cách mạng không cộng sản này. Về việc này Hoàng Văn Hoan, một cán bộ cao cấp trong bộ chính trị của đảng cộng sản Việt Nam, bị nhóm Lê Duẫn ngược đãi đã bỏ trốn sang Trung Quốc nhân dịp đi công cán, đã viết rõ trong cuốn hồi ký "Giọt Nước Trong Biển Cả" (Tập I, trang 133) như sau:

    "Vào khoảng tháng 10 năm 1940, khi chúng tôi đến Quế Lâm thì Bác đã ở đó. Ông Hồ Học Lãm cũng đã được xếp đặt đến chữa bệnh ở bệnh viện Quế Lâm rồi. Chúng tôi thường bí mật gặp Bác ở biện sự xứ Bát Lộ Quân để báo cáo và xin chỉ thị về hoạt động.

    "...Vấn đề đầu tiên là vấn đề lấy danh nghĩa gì để hoạt động? Bác chủ trương lấy danh nghĩa Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội, và mời ông Hồ Học Lãm đứng ra chủ trì để chúng ta dựa vào đó mà hoạt động. Chủ trương đó xuất phát từ chỗ Việt Minh là một tổ chức mà trước kia đã cùng với ông Hồ Học Lãm lập ra và đăng ký ở Nam Kinh; xuất phát từ chỗ ông Hồ Học Lãm không phải là cộng sản mà lại thật lòng ủng hộ chúng ta, nếu ông đứng ra làm, thì sự hoạt động của chúng ta được nhiều điều thuận lợi.

    "Rất đồng ý với ý kiến này, ông Hồ Học Lãm nhận đứng tên làm chủ nhiệm Việt Minh, giới thiệu chúng tôi đi gặp (toàn những người của Trung Hoa Quốc Dân Ðảng, chống cộng sản...., nhất là Lý Tế Thâm và Dương Kế Vinh. MV)

    Trước đó (từ trang 88 đến 105), Hoàng Văn Hoan đã nói kỹ về ông Hồ Học Lãm là người cùng làng với Hoan, thuộc dòng giống cách mạng yêu nước có tiếng (tr. 88), lúc này đang giữ trọng trách trong quân đội Trung Hoa Quốc Dân đảng, được các cấp chỉ huy THQD tin dùng. Hoan cũng nói là chính ông Hồ Học Lãm đã lập nên Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh hội, đích thân lãnh đạo tổ chức này cùng với ông Nguyễn Hải Thần và một số người thuộc nhóm Hoàng Văn Hoan làm phụ tá. Hoan cũng nói chính ông HHL bảo "gọi tắt là Việt Minh "(tr. 103). Rồi cũng chính ông HHL xuất tiền túi ra lập tờ báo bằng chữ Trung Quốc lấy tên là Việt Thanh (tr. 105). Trang 107 Hoàng Văn Hoan viết:

    "Ông (Hồ Học Lãm) không phải cộng sản. Ông là người Nho học, nhưng đã thực hành mặt tích cực của một số giáo điều của đạo Nhọ...và ông đã giúp Ðảng ta và một số đồng chí của ta rất nhiều."Ông không phải là cộng sản. Ðiều này Quốc Dân Ðảng Trung Quốc biết rõ trăm phần trăm. Ông đứng ra lập Việt Minh trong lúc này đối với chúng ta mà nói là một sự che chở rất có hiệu lực."

    Những trang sách của Hoàng Văn Hoan cho thấy rõ Hồ Chí Minh đã lợi dụng lòng tốt của các nhà cách mạng quốc gia (phi cộng sản) để phát triển và củng cố tổ chức cộng sản, để rồi sau đó mượn danh nghĩa của các nhà cách mạng này và núp sau lưng tổ chức của họ để hoạt động bí mật cho Quốc Tế cộng sản, và sau cùng cướp luôn danh nghĩa của tổ chức Việt Minh rồi trong hồi ký "Những Mẩu Chuyện..." đã nói dối rằng mình là lãnh tụ Việt Minh.

    Tiếc rằng lúc ấy, trí thức cũng như dân quê Việt Nam đã bị lầm nghe ông Hồ đứng vào một Việt Minh đã biến chất, đã bị nhuộm đỏ, để kháng chiến không công cho cộng sản. Lúc ấy Hồ Chí Minh đã lập lờ đánh lận con đen, dùng danh xưng cũ Việt Minh, thêm vào hai chữ "mặt trận" ở trước để bào chữa rằng đây không phải là ăn cắp danh xưng của "VNÐLÐM hội" của nhóm ông Hồ Học Lãm. Ðó là về mặt hình thức và danh xưng. Còn về nội dung thì ông Hồ đã cố gắng đưa vào mặt trận này những nhà trí thức trẻ tuổi chưa có kinh nghiệm chính trị thuộc hai đảng Dân Chủ và Xã Hội (như nói trên), và một vài tên tuổi khác không thuộc đảng cộng sản, nhưng sẵn có cảm tình với đảng này, do không am hiểu mục đích và mánh lới, âm mưu của nó. Với cái vẻ bề ngoài phi cộng sản đó, ông ta biến mặt trận Việt Minh thành một cao trào cách mạng quốc gia đượm màu sắc dân tộc nhiều hơn màu sắc đấu tranh giai cấp,
    hòng có thể lôi kéo toàn dân ủng hộ ông.

    Tóm lại, Nguyễn Ái Quốc đã lợi dụng lòng yêu nước và sự đứng ngoài đảng cộng sản của nhà cách mạng Hồ Học Lãm để làm lợi khí tuyên truyền cho tổ chức của riêng mình và dần dần biến tổ chức của ông Hồ Học Lãm thành tổ chức của đảng cộng sản.

    Về thời gian ông Hồ mất tích rất lâu (từ 1933 đến 1938) trong sách của TDT, có người cho rằng ông ta bị thất sủng và bị gọi về Liên xô để chỉnh huấn.Cũng có người cho rằng ông bị nghi ngờ làm gián điệp cho Anh, nên bị LX trừng phạt.Nhưng có một điều ai cũng thấy là trong thời gian 4 năm này, ông Hồ đã được học tập kỹ và tiến bộ rất nhiều về các phương diện tuyên truyền và tình báo chiến tranh gián điệp, đến nỗi chính Võ Nguyên Giáp mà phần lớn các sử gia quốc tế đều công nhận là người làm nên những chiến thắng của cộng sản ở Việt Nam cũng phải công nhận "Hồ chủ tịch là nhà chiến lược thiên tài", như nhan đề cuốn sách mà Giáp viết năm 1975.

    Chỉ đọc sơ qua người đọc cũng thấy trong cuốn sách của TDT, có tới 5 lần tác giả nói dến việc Nguyễn Ái Quốc đột nhiên mất tích và tác giả mất mối, mất đường dây. Ðó chính là những lúc TDT tức HCM không muốn tiết lộ những việc làm cần phải giấu để bảo vệ cái vỏ bọc dân tộc, đừng cho cái ruột đỏ cán bộ quốc tế c.s. bị lòi ra.

    Nhưng nay, sau khi chỉ đối chiếu sơ qua những gì TDT viết với những gì HCM nói và làm trong thời gian đó như sử "chính thống" của cộng sản đã ghi thì phải kết luận TDT đã giết Hồ Chí Minh vậy. Trở lên chúng tôi đã đối chiếu những gì Trần Dân Tiên viết với những tài liệu khác, cũng do cán bộ cộng sản trung thành với Hồ Chí Minh viết, để phơi bày những điều gian chúng tôi xin trình với bạn đọc sự đạo đức giả lộ liễu của Hồ Chí Minh khi ông ta dùng bút hiệu Trần Dân Tiên để tâng bốc "bác Hồ là con người khiêm tốn dường ấy". TDT nói "bác Hồ" không có thì giờ để nói về mình, vì việc nước trăm công nghìn việc, quá bề bộn. Vậy mà chính bác lại để thì giờ nắn nót viết nên cuốn truyện này để tự thần thánh hóa chính mình. Sau đây là những lời trơ trẽn đó: Trang 6:

    "Sau khi tôi nói xong, Người (chú ý chữ Người viết hoa) cười và đáp: "Tiểu sử. Ðấy là một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn. Rất nhiều đồng bào đang đói khổ. Sau 80 năm nô lệ, nước ta bị tàn phá, bây giờ chúng ta phải xây dựng lại. Chúng ta nên làm những công việc hết sức cần kíp đi đã! Còn tiểu sử của tôi... thong thả sẽ nói đến sau!" Và chỉ mấy hàng sau:

    "Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu
    công việc, làm sao có thể kể lại cho tôi nghe bình sinh của Người được?" Ngày nay khi mà đảng đã xác nhận tác phẩm vô tiền khoáng hậu này là của chính lãnh tụ đảng viết ra, nhiều người mới nói: "rõ giấu đầu hở đuôi! Có gì mà chẳng biết. Chỉ đọc trang đầu là biết ngay chính ông Hồ viết chứ còn ai? Ðây nhé:

    "Ngày thứ hai tôi viết thư xin phép được gặp Hồ Chủ tịch.Ngay chiều hôm ấy (xin nhớ Ngay chiều hôm ấy), tôi rất sung sướng nhận được thư trả lời của HCT viết như thế này: Ngày mai 7 giờ 30 mời chú đến" ký tên HCM.

    Người ta bảo chỉ có ông ta viết cho ông ta và tự trả lời mới nhanh như thế chứ bưu điện Mỹ cũng phải một ngày là sớm nhất. Vậy mà mấy chục năm chẳng ai nhìn ra điều đó, mới chứng tỏ dân ta sao mà chậm hiểu thật. Cho nên ngày nay mới khổ như thế này. Trời ơi! Hỡi các nhà đại trí thức VN ơi xin thử giải thích xem, tại sao lại vậy nhỉ?

    Tôi xin kết luận bài này bằng một câu của cựu hoàng Bảo Ðại nói với sử gia Trần Trọng Kim ở Hương Cảng năm 1948: "Chúng mình già trẻ mắc lừa bọn du côn" (10) Và mong đám hậu duệ của Lệ Thần và Nguyễn Vĩnh Thụy cũng như các đồng chí trẻ của Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh sẽ không bị lừa như cha chú và các bậc tiền bối của họ.

    Miền Nam Cali 21-12-2001.
    Minh Võ

    Chú thích:

    (1) Ðến nỗi UNESCO đã muốn tổ chức vinh danh ông với tư cách đó vào năm 1990, nhưng không làm được vì nhiều nhà trí thức Pháp (trong đó có Michel Tauriac, Olivier Todd, Jean-Francois Revel...) đã đem ra bằng chứng dễ phản bác để nghị nông nổi của tổ chức văn hóa giáo dục của Liên Hiệp Quốc này

    (2) Khi xuất bản lần thứ tư, năm 1986 cuốn sách có ghi là được "viết xong vào mùa xuân 1948".

    (3) Trường Chinh có các cuốn "Chủ tịch HCM, sự nghiệp vĩ đại, gương sáng đời đời", Hà Nội, Sự Thật, 1980, và "Chủ tịch HCM vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta", Hà Nội, sự Thật, 1985

    (4) Phạm Văn Ðồng có 4 cuốn về HCM: "Hồ chủ tịch, tinh hoa của dân tộc, lương tâm của thời đại", Sự Thật 1976; "HCM, mốt con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp", Sự Thật, 1990; "HCM, quá khứ, hiện tại và tương lai", Sự Thật, 1991; và "HCM và con người VN trên con đường dân giầu, nước mạnh", Hà Nội, nhà XB Chính Trị Quốc Gia, 1993.

    (5) Võ Nguyên Giáp có 5 cuốn về HCM: "Hồ chủ tịch, nhà chiến lược thiên tài", Hn, sự Thật, 1975; "Bác Hồ về Tân Trào" Tuyên Quang, 1970; "Thế giới còn đổi thay, nhưng tư tưởng HCM sống mãi", Th. phố HCM, 1991; "Tư tưởng HCM, quá trình hình thành và phát triển", Sự Thật, 1993; "Tư tưởng HCM và con đường cách mạng VN" Hà Nội, nhà XB Chính Trị Quốc Gia, 1997.

    (6) Văn Tiến Dũng có cuốn "Ði theo con đường của bác" Hà Nội, nhà XB CTQG 1993,

    (7) Hồng Hà có các cuốn "Ðời niên thiếu của Hồ chủ tịch" và "Bác Hồ trên đất nước Lênin" v.v...,

    (8) Thực ra đảng của ông này chống Pháp và chống VM vì chẳng những VM là cộng sản, mà còn vì VM do HCM cầm đầu lại đi ký hiệp định sơ bộ 6-3-46 dành cho Pháp quá nhiều quyền lợi, phản lại quyền lợi quốc giạ MV),

    (9) Xin xem "Một Cơn Gió Bụi" của Lệ Thần Trần Trọng Kim, đoạn cuối.

    Ha noi
    2008-05-07 09:27:55

    www.ddcnd.org

    Trả lờiXóa
  5. Nặc danh9/1/09 12:42

    Hồ Chí Minh tại Trung Quốc




    Nguyên tác Hoa ngữ của tác phẩm Hồ Chí Minh tại Trung Quốc chỉ được xuất bản lần đầu tại Đài Bắc năm 1972, nhưng trước đó 5 năm đã xuất hiện bản dịch Anh Ngữ của nữ dịch giả Margaret Chen vào tháng 6-1967. Năm 1999 mới có bản dịch Việt ngữ của Thượng Huyền.

    Cước chú từng trang cho thấy Tưởng Vĩnh Kính tham khảo rất nhiều tác giả Pháp, Mỹ như Charles B. McLane, Jean Lacouture, Philippe Devillers, Joseph Buttinger, Robert Shaplen, Ellen Hammer, I. Milton Sacks... và nhiều tác giả Việt Nam trong số có Trần Dân Tiên mà lúc đó chưa ai biết là bút hiệu của Hồ Chí Minh. Tác giả cũng nhắc tới các nhân vật thân cận với Hồ Chí Minh như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Khánh Toàn…

    Một số nhân vật Việt Nam khác được nhắc nhiều lần như Nghiêm Kế Tổ, Hoàng Văn Chí. Hoàng Văn Chí và Julie How là những người từng có thư từ liên lạc với tác giả. Nhưng tác phẩm của Tưởng Vĩnh Kính dựa phần lớn vào tài liệu của văn khố Trung Hoa Quốc Dân Đảng với những báo cáo của Julie How, Trương Phát Khuê, Tiêu Văn, Hình Sầm Châu, Trịnh Học Giá…Vì phần lớn tài liệu được sử dụng là tài liệu trong văn khố Trung Hoa Quốc Dân Đảng nên tập trung khá nhiều vào thời kỳ hoạt động của Hồ Chí Minh tại Trung Quốc từ 1925 đến 1945. Trong khoảng thời gian này, Hồ Chí Minh lui tới Trung Quốc ít nhất 5 lần và ở lại đây ít nhất 10 năm.

    Qua 375 trang sách, TưởngVĩnh Kính thuật lại nhiều chi tiết về cuộc đời và hoạt động của Hồ Chí Minh trong những năm sống tại Trung Quốc và xác định Hồ Chí Minh luôn luôn vì chủ nghĩa Quốc Tế Cộng Sản – tức Liên Xô – vì lúc nào cũng làm theo lệnh và báo cáo cho Bộ Phương Đông (1) Đệ Tam Quốc Tế. Theo Tưởng Vĩnh Kính, việc Hồ Chí Minh dành được tình thân và lòng tin của một số giới chức Trung Hoa như Trương Phát Khuê hay bà Tống Khánh Linh, phu nhân của lãnh tụ Tôn Dật Tiên… không do ý hướng đấu tranh phụng sự đường lối cách mạng quốc gia mà do những thủ thuật giao tiếp.

    Hồ Chí Minh đã khôn khéo ứng phó với từng trường hợp để tìm điều kiện che chở cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu chính trị bí mật nhận lãnh từ Đệ Tam Quốc Tế. Đây cũng là cách thức mà Hồ Chí Minh tiếp tục vận dụng vào những thời điểm cần tỏ ra thân Mỹ hay thân Pháp để tạo điểm tựa cho việc giành quyền lãnh đạo và triệt hạ các thành phần đối lập, dù đó là những phần tử yêu nước như các nhà cách mạng thuộc các đảng Việt Cách, Việt Quốc và Đại Việt...

    Nơi trang 116, Tưởng Vĩnh Kính nêu lên 5 điểm chứng tỏ Hồ hoạt đồng dưới sự điều khiển chặt chẽ và theo đúng kế hoạch của Đệ Tam Quốc Tế. Hai tổ chức mà Hồ Chí Minh thường liên hệ trong những năm 1929-1930 là Phòng Bí Thư Hội Công Chức và Công Nhân Thái Bình Dương (từ 1930-1931 do Viễn Đông Cục quản lý) và Viễn Đông Cục của Đệ Tam Quốc Tế ở Thượng Hải, ban đầu do Pavel Mif về sau do Hilaire Noulens điều hành.

    Hồ Chí Minh cũng giúp Noulens điều hành Nam Dương Cục từ ngày 3-3-1930 đến tháng 6-1931 bao gồm các nước Nam Dương, Mã Lai, Xiêm.

    Nhiều tác giả khác đều cho biết Hilaire Noulens là người trực tiếp điều khiển Hồ Chí Minh tại Thượng Hải trong một thời gian. Noulens là người ra chỉ thị cho Hồ Chí Minh và nhận báo cáo của Hồ Chí Minh sau khi hoàn thành công tác.

    Dựa vào những chứng nhân người Trung Hoa và tài liệu trong văn khố Quốc Dân Đảng, Tưởng Vĩnh Kính cho biết hoạt động chủ yếu của Hồ Chí Minh trong giai đoạn ở Hoa Nam là dựa vào uy tín các nhà ái quốc Việt Nam, kết thân với một số giới chức Trung Hoa để dễ dàng xâm nhập các tổ chức cách mạng Việt Nam tại đây.

    Hồ Chí Minh không gia nhập với mục đích góp phần đẩy mạnh hoạt động đấu tranh giải phóng đất nước mà trước hết, tạo bình phong che giấu hình tích, và kế đó là đạt các mục tiêu mà Đệ Tam Quốc Tế đang nhắm.

    Mục tiêu cụ thể trong thời điểm đó của Đệ Tam Quốc Tế là vừa khai thác vừa lũng đoạn phá hoại các tổ chức này để tạo đà phát triển ảnh hưởng cộng sản. Hồ Chí Minh mượn các tổ chức này để trình diễn bộ mặt yêu nước đồng thời lôi cuốn người của các tổ chức này gia nhập hàng ngũ cộng sản, và nếu được, sẽ biến các tổ chức này thành tổ chức cộng sản.

    Nhận định của Tưởng Vĩnh Kính phù hợp với tiết lộ của Hoàng Văn Hoan, một nhân vật thân cận với Hồ Chí Minh nhiều năm, về giai đoạn Hồ Chí Minh tham gia tổ chức Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của các nhân vật Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần...

    Theo Hoàng Văn Hoan, Việt Minh vốn là tên gọi tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội mà Hồ Chí Minh đã tham gia và sau đó biến thành tên gọi của phong trào cộng sản Việt Nam vào năm 1945 mà mọi người đều biết là Mặt Trận Việt Minh.

    Tưởng Vĩnh Kính xác nhận hai chữ Việt Minh là viết tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội từng hoạt động từ lâu trước tháng 5-1941 do Hồ Học Lãm lãnh đạo. Về sau, tổ chức này cùng một số tổ chức khác kết hợp thành Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội của nhiều nhân vật như Nguyễn Hải Thần, Trương Bội Công ...“Hồ gia nhập Cách Mạng Đồng Minh Hội, một mặt là do đã ngụy trang thành công, được cá nhân tướng Trương Phát Khuê tín nhiệm, mặt khác là được các phần tử tả khuynh Trung Quốc âm thầm hỗ trợ từ bên trong.” (2) và “Một năm sau, khi Hồ Chí Minh tỏ thái độ "hợp tác" và gia nhập Cách Mệnh Đồng Minh Hội, lúc bấy giờ các đảng phái Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc mới thực sự bị đẩy vào một tình huống "khốn đốn”. (3)

    Tóm lại, Tưởng Vĩnh Kính đánh giá toàn bộ hoạt động của Hồ Chí Minh suốt thời gian ở Hoa Nam chỉ là xâm nhập để đánh phá các tổ chức cách mạng dân tộc yêu nước, bởi cộng sản theo đuổi việc nắm độc quyền lãnh đạo các lực lượng đấu tranh nên đã coi các tổ chức này là kẻ địch. Tình huống khốn đốn mà Tưởng Vĩnh Kính nhắc tới được khắc họa bằng hai hình ảnh: hoặc bị sang đoạt đổi tên thành tổ chức công cụ ngoại vi của Cộng Sản hoặc lâm cảnh bị kích động chia rẽ rồi tàn lụi.

    Mục tiêu và ý hướng đó đã được Tưởng Vĩnh Kính nhắc lại qua những ghi nhận về thái độ của Hồ Chí Minh đối với cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1930: "Ông Hồ rất vui mừng thấy Việt Nam Quốc Dân Đảng thất bại. Điều đó phản ảnh rõ trong ngữ khí của ông ta khi bình luận về cái thu hoạch được của Cộng Sản Việt Nam như sau: "Từ sau cuộc khởi nghĩa đó, giai cấp tư sản (chỉ Việt Nam Quốc Dân Đảng) đã mất tất cả ảnh hưởng trong cuộc vận động giải phóng dân tộc; và giai cấp công nhân cùng quần chúng nông dân lao động được tổ chức lại trong đảng tự do (chỉ Cộng Sản). Đảng trở thành người lãnh đạo duy nhất của cuộc cách mạng chống chủ nghĩa đế quốc.” (4)

    Đây là thời kỳ hoạt động mà về sau Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn diễn tả sai lạc hoặc xóa bỏ bằng sự khẳng định Mặt Trận Việt Minh được Hồ Chí Minh cho ra đời tại Pác Bó. Các tác giả Cộng Sản Việt Nam sau này, ngoại trừ Hoàng Văn Hoan, đều ghi rằng Mặt Trận Việt Minh thành lập vào tháng 5-1941 theo sáng kiến của Hồ Chí Minh lúc đó còn mang tên Nguyễn Ái Quốc. (5)

    Trọn chương 4 của tác phẩm được tác giả dành kể về hành động cụ thể của Hồ Chí Minh tại Quảng Châu trong nỗ lực ngụy trang bằng chủ nghĩa dân tộc và cách thức xâm nhập hàng ngũ những người yêu nước Việt Nam cũng như hàng ngũ Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Tháng 1-1926, nhân dịp đại hội Trung Hoa Quốc Dân Đảng, Hồ lấy tên Lý Thụy đã gửi thư xin được tới trình bày về tình hình ở Việt Nam. Tưởng Vĩnh Kính cho biết "Hồ đã tiếp xúc với Trung Hoa Quốc Dân Đảng, giống như kế hoạch của Trung Cộng là cố nắm trong tay cuộc vận động chủ nghĩa dân tộc.”

    Tưởng Vĩnh Kính nhắc tới một số người hoạt động với Hồ Chí Minh đã có nhiều hành vi phản bội cách mạng như Lâm Đức Thụ, Vũ Anh, Lê Tùng Anh, Nguyễn Văn Thiều ... Lâm Đức Thụ được Hồ Chí Minh đưa lên thay Hồ Tùng Mậu trong vai trò lãnh đạo Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội tại Hương Cảng chính là kẻ giao nộp hình ảnh, tin tức hoạt động của nhiều người đấu tranh cho mật thám Pháp – "Thụ là người từng hợp mưu với Hồ Chí Minh bán cụ Phan Bội Châu cho Pháp năm 1925”. (6)

    Theo Tưởng Vĩnh Kính, người đầu tiên Hồ Chí Minh tìm gặp khi đến Côn Minh là Vũ Anh có bí danh Trịnh Đông Hải vốn cùng với Nguyễn Văn Thiều, Lê Tùng Anh là những kẻ “vẫn giữ liên hệ với lãnh sự quán Pháp một cách âm thầm” đã phản bội Việt Nam Quốc Dân Đảng khiến các nhân vật Trương Nguyên Minh, Vũ Hồng Khanh, Đào Quang Bào bị nhà cầm quyền Quốc Dân Đảng Trung Hoa trục xuất.

    Tất nhiên việc tranh thủ tình cảm và lòng tin của chính quyền Trung Hoa Dân Quốc là điều Hồ Chí Minh hết sức chú trọng. Vì thế, Hồ Chí Minh đã cùng đồng chí Phùng Chí Kiên mượn danh nghĩa hội Việt Nam Dân Chúng Trợ Hoa Kháng Địch Hậu Viện đưa ra các truyền đơn chống Nhật để được sự bao che của bà Tống Khánh Linh đồng thời chiếm thiện cảm của nhiều giới chức Trung Hoa lúc đó.

    Nhưng thời gian này, tháng 8-1940, Hồ Chí Minh đã âm thầm phái Trần Văn Hinh đến Diên An ký một mật ước với Trung Cộng hứa sẽ liên hiệp các đảng phái lập mặt trận thống nhất, lấy khẩu hiệu chống thực dân và phong kiến làm chủ điểm đấu tranh và hứa yểm trợ các đảng viên Trung Cộng hoạt động tại Việt Nam. Đổi lại Trung Cộng đồng ý cấp cho Hồ Chí Minh và các đồng chí 50 ngàn quan để chi phí ở Trung Quốc.

    Tưởng Vĩnh Kính nhận định là trong hành động, Hồ Chí Minh luôn coi đường lối của Mao Trạch Đông là mẫu mực nên vận dụng tối đa tấm bình phong chủ nghĩa dân tộc và trưng dẫn thêm quan điểm mà Hồ Chí Minh đã nêu trong tác phẩm Con Đường Kách Mệnh: "Một là, nhiệm vụ cách mạng không phải vì một thiểu số người nào mà vì quảng đại giai cấp công nhân và quần chúng nông dân, do đó cần phải tổ chức quần chúng. Hai là, cách mạng tất yếu phải chịu sự chỉ huy của chủ nghĩa Mác Lênin. Ba là, cuộc vận động cách mạng ở mỗi quốc gia phải được kết hợp chặt chẽ với giai cấp vô sản quốc tế; công nhân và quần chúng nông dân phải phân biệt rõ giữa đệ tam và đệ tứ quốc tế.”

    Tưởng Vĩnh Kính cũng cho thấy sự trùng hợp như dập khuôn giữa nghị quyết đại hội kỳ 6 của Trung Cộng với bản hiệu triệu và cương lãnh giản yếu do Hồ Chí Minh đưa ra sau khi hợp nhất các nhóm Cộng Sản Việt Nam thành Đông Dương Cộng Sản Đảng ngày 18-2-1930. Cả hai văn kiện đều dựa theo phương án dành cho các đảng cộng sản Đông Nam Á được đề ra tại đại hội kỳ VI của Đệ Tam Quốc Tế nhưng trong bản hiệu triệu, Hồ Chí Minh đã lập lại đầy đủ 10 khẩu hiệu của Trung Cộng trong nghị quyết đại hội kỳ 6 của Cộng Sản Trung Hoa.

    Tác giả trưng nhiều bằng chứng cho thấy Hồ Chí Minh luôn hành động rập khuôn theo Trung Cộng, từ việc khai thác chiêu bài kháng chiến chống Nhật qua việc tiếm danh các tổ chức quốc gia, việc lập nên các hội cứu quốc đến thủ đoạn triệt hạ các phần tử khác chính kiến mà tổ chức Việt Minh thi thố sau này: "Những người bị thảm sát đều bị gán cho tội "Việt gian”, tội "làm gián điệp cho địch”, hoặc thân Nhựt vv…Cách thức đó của Việt Minh hoàn toàn giống với Trung Cộng trong khu giải phóng của họ.” (7)

    Tưởng Vĩnh Kính xác định mục đích tối hậu của Hồ là đoạt chính quyền, chứ không phải dành độc lập cho tổ quốc. Mục tiêu này đã soi sáng mọi hành vi cũng như lời lẽ của Hồ Chí Minh trong giao tiếp với các thế lực ngoại quốc lúc đó là Mỹ, Pháp, Trung Hoa.

    Tác giả viết:

    "Nỗi thao thức chính yếu của ông Hồ vào lúc đó không phải là vấn đề có thể sớm đạt được một nền độc lập hay không, mà chính là vấn đề bản thân của Việt Minh có thể đoạt thủ được chính quyền hay không…

    … Do đó trước khi công tác chuẩn bị cho việc cướp chính quyền chưa hoàn thành, ông không hề mong quân Đồng Minh vào Việt Nam; lại càng không mong các đảng phái Việt Nam khác theo quân đội Trung Hoa trở về Việt Nam để tranh thủ dân chúng và chính quyền cùng với ông. Bởi vậy các thành viên Cách Mạng Đồng Minh Hội không thuộc cộng đảng trở về Việt Nam đều bị Việt Minh bao vây, bắt giết và đội quân dò đường của Trung Quốc vào Việt Nam đã bị quấy phá ngăn trở …

    ... Ông Hồ đã dùng điện đài Mỹ tại căn cứ của ông để tiếp xúc thẳng với đại diện chính phủ De Gaulle tại Côn Minh, ngoài việc yêu cầu Pháp bảo chứng sẽ trả độc lập cho Việt Nam trong vòng từ 5 đến 10 năm, còn yêu cầu Pháp cấp vũ khí và huấn luyện. Khoảng tháng 7, một đoàn đại biểu Pháp, Mỹ gồm 6 người đã nhảy dù xuống tổng bộ Việt Minh. Ông Hồ đã ngụy trang cho mình một bộ mặt rất "thân Tây phương". John, một thiếu úy Mỹ trẻ tuổi, ở chung mấy tháng với ông Hồ tại căn cứ Việt Minh lúc bấy giờ, đã ngây thơ tin chắc ông Hồ không phải là cộng sản. Dưới cái nhìn của John, giả sử ông Hồ có là cộng sản, thì cũng chắc chắn rằng ông Hồ rất muốn hợp tác với tây phương, đặc biệt là với Mỹ và Pháp. Hiển nhiên, Việt Minh có hành động bài Hoa cũng là nhằm mục đích dụ hoặc người Pháp”.

    Tưởng Vĩnh Kính cho biết ngay giữa thời điểm đó, Hồ Chí Minh đã có một hành động vừa nhắm lấy lòng Pháp vừa muốn mượn bàn tay Pháp triệt hạ một tổ chức yêu nước là đảng Đại Việt: “Ông Hồ đã dùng điện đài của quân Mỹ để nói xấu và bán rẻ cái mũi nhọn chống Pháp là đảng Đại Việt, hòng tranh thủ lòng ưu ái của Pháp.Trước ngày Nhật đầu hàng không lâu, John đã dùng điện đài của mình đánh đi bức điện tín sau đây giùm ông Hồ: "Đảng Đại Việt đang trù tính gây một cuộc khủng bố chống Pháp đại quy mô và mưu toan giá họa cho Việt Minh. Việt Minh đã ra lệnh cho 2 triệu hội viên và vô số dân chúng ủng hộ, hãy đem hết khả năng đề phòng cẩn mật cùng ngăn chặn kế hoạch phạm pháp này của đảng Đại Việt. Việt Minh xin tuyên bố mục đích rõ ràng của mình là mưu cầu nền độc lập cho quốc gia bằng đấu tranh chính trị; nếu cần thiết phải dùng đến hành động quân sự thì quyết không dựa vào các thủ đoạn hèn hạ và phạm pháp. Ủy ban giải phóng dân tộc VM - ký tên" (8)

    Theo Tưởng Vĩnh Kính, lúc đó đảng Đại Việt của Nguyễn Tường Tam và Quốc Dân Đảng của Vũ Hồng Khanh hợp nhất thành một lực lượng đấu tranh với thành phần lãnh đạo gồm 29 nhân vật đều là những phần tử trí thức ưu tú của Việt Nam không chỉ được sự ủng hộ của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc mà còn có thanh thế rất lớn đối với dân chúng trong nước. Lực lượng này là mối lo cần đối phó trước hết của Hồ Chí Minh. “Bởi vậy, hành động "liên kết với Mỹ” và "bài Hoa” của ông Hồ và mặt trận Việt Minh hoàn toàn đặt cơ sở trên nỗi thao thức về vấn đề sinh tồn và phát triển của bản thân họ. Còn như Việt Nam có đạt được độc lập hay không chỉ là vấn đề thứ yếu thôi.” (09)

    Trong ý đồ đó, việc lợi dụng danh nghĩa Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội được tác giả nhìn nhận là hết sức cần thiết cho Hồ Chí Minh và phân tích:

    "…Tại sao ông Hồ và trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam lại vẫn muốn lợi dụng lá cờ Việt Nam Độc Lập Đồng Minh (chỉ bỏ chữ "hội” đi một cách khôn khéo mà thôi)? Cách thức đó chính là lặp lại một cách khéo léo điều mà người Cộng Sản gọi là "chiếm lĩnh cơ quan, làm phe tả của họ”. Ý đồ của họ, xét ra không ngoài việc lợi dụng danh nghĩa Độc Lập Đồng Minh Hội để dễ dàng chiêu tập tổ chức quần chúng của nó, thậm chí còn chiêu dụ cả đám tàn dư của phe thân Nhật. Ý đồ chủ yếu của ông Hồ và Cộng Sản Việt Nam khi tiếp thu Độc Lập Đồng Minh Hội hiển nhiên là nhằm chiêu dụ tổ chức quần chúng của hội này. (10)

    Căn cứ vào các tư liệu tại Quảng Tây thời đó, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh được thành lập tháng 7 năm 1935, là sự hợp thành của Việt Nam Quốc Dân Đảng, Độc Lập Đảng, Tân Việt Đảng … Các tổ chức quần chúng của nó cũng được ông Hồ đổi thành các hội "Cứu Quốc” (11) Ý đồ lớn nhất của ông Hồ khi lợi dụng cơ cấu Việt Minh là che giấu cái bộ mặt cộng sản, lợi dụng tình thế cùng tâm lý quần chúng Việt Nam, ngụy trang chủ nghĩa dân tộc, nhằm phát triển thực lực của bản thân.” (12)

    Tác phẩm của Tưởng Vĩnh Kính không bao quát hết cuộc đời Hồ Chí Minh nhưng đã xác định được chủ đích trong mọi hoạt động của Hồ Chí Minh là tranh thủ quyền hành cho tổ chức của mình để theo đuổi lý tưởng, còn mục tiêu giành độc lập cho đất nước chỉ là mục tiêu giai đoạn bắt buộc phải đạt tới.

    Hồ Chí Minh tỏ ra không mệt mỏi trong việc hô hào đấu tranh giải phóng dân tộc vì không còn con đường nào khác để phụng sự lý tưởng Cộng Sản và như chính Hồ Chí Minh đã nói – nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập thì quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.

    Những trái ngược dễ dàng xẩy ra khi nhận định về Hồ Chí Minh có lẽ vì mức cuốn hút của một ý chí đấu tranh mãnh liệt đã phủ mờ yêu cầu phân tích tính mâu thuẫn tất yếu giữa quyền lợi giai cấp với quyền lợi dân tộc. Do đó, hình ảnh thực tế luôn chao đảo khiến mọi cái nhìn về một con người dựa trên nền tảng này khó tránh khỏi ngả nghiêng.

    CHÚ THÍCH

    CHƯƠNG 07

    (01) Tên gọi của cơ cấu này theo tài liệu chính thức của Cộng Sản Việt Nam là Bộ Phương Đông Quốc Tế Cộng Sản, còn báo chí thường nhắc theo nhiều cách như Đông Phương Bộ, Ban Phương Đông, Đông Phương Cục hoặc Cục Đông Phương hoặc có khi là Viễn Đông Cục, Viễn Đông Vụ ....

    (02) - (03) - (04) SĐD tr. 246, 245, 119

    (07) Văn Kiện Đảng – T. 3, tr. 195 ghi: Từ ngày 10 đến ngày 19.5.1941 Hội Nghị lần 8 Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương họp tại Pác Bó, Cao Bằng. Đây là Hội Nghị Trung Ương Đảng lần đầu tiên họp ở trong nước do Nguyễn Ái Quốc chủ trì với tư cách đại diện Quốc Tế Cộng Sản. Hội nghị đã khẳng định: Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta là phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp – Nhật ...Vì nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng thì... quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.

    Hồ Chí Minh Toàn Tập – T. 3, tr. 197 ghi: Theo sáng kiến của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội Nghị trên đã quyết định thành lập Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất rộng rãi mang tên Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (gọi tắt là Việt Minh) nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn.

    (06)-(07) SĐD tr. 108, 329

    (08)-(09) SĐD – Cước chú ghi theo tài liệu của Robert Shaplen các tr. 28-30, tr.361

    (10) Về gia nhập các tổ chức để tranh thủ quần chúng, xin xem chương về Phùng Thế Tài.

    (11)-(12) SĐD tr. 202, 206

    Ha noi:
    2008-06-13 10:22:25

    www.dcdnd.org

    Trả lờiXóa
  6. Nặc danh9/1/09 12:43

    PHÓNG SỰ ÁN MẠNG: NHÁT DAO THỦNG PHỔI TRÁI VÕ VĂN KIỆT ĐƯỢC PHÁT HIỆN !!




    Bí mật lịch sử chính trị , có thể mang tính đột phá và làm thay đổi cán cân quyền lực tại Việt Nam đã bật ra .

    Theo nguồn tin đặc biệt ở Hà Nội , Võ văn Kiệt đã bị ám sát tại tư gia , sau đó được âm thầm đưa sang Singapore điều trị nhưng không qua khỏi . Chứ không phải dịch tràn phổi như khám nghiệm tử thi láo tai Sai Gòn buổi trưa đưa xác ông ta về từ Sin .

    Người ta cũng thấy sự ngụy tạo hớ hênh của ngày đưa xác ông ta về . Giấy ghi xác định tim đã ngừng đập thì ghi tại Singapore , nhưng về đến Việt Nam thì vẫn có dịch truyền lũng lẳng bên cái xác ướp .

    Không cần nói , không hề và chẳng "ma" nào dám mổ xẻ tử thi thi của ông ta để kết luận chính thức về nguyên nhân cái chết của ông ta .

    Như vậy , các nhà sử thi của chúng ta sẽ bớt phần gian nan vất vả , nếu có trong tương lai , chỉ cần xác định lại tử thi hay phẩn khung xương là biết chính xác vết dao đó đâm thế nào , thời gian nào và kết luận kẻ nào từ chính trị bộ chủ mưu .

    Nhận định từ các diễn đàn trong nước cho biết , thời điểm Việt Nam chuyển đổi dân chủ sẽ là từ năm 2014 . Ngay từ bây giờ , làn sóng yêu cầu Nông Đức Mạnh từ bỏ cơn mơ : "là con không chính thức của Hồ" nên sẽ được tại vị đến chết đang dâng rất cao , âm thầm trong nước nhưng dữ dội .

    Liệu ai và khi nào sẽ khai quật tử thi, bị tử nạn chứ không chết lão của Võ văn Kiệt ? Lời giải đáp từ phong trào dân chủ của nhân dân ta .

    2008-06-26 03:24:14

    Trả lờiXóa
  7. Nặc danh9/1/09 12:45

    Thượng Tướng Công An Thi Văn Tám - Bị Giết Hay Bệnh Chết?




    Hoàng Giang - ĐDCND







    Thượng tướng Công An Thi Văn Tám








    Ngày 15 tháng 12 năm 2008 đồng loạt các đài báo loan tin Thượng Tướng, Thứ trưởng Bộ Công an Thi Văn Tám, phụ trách an ninh đã bị bệnh chết ngày 12 tháng 12 năm 2008. Thượng tướng Thi Văn Tám chết ngày 12, mãi đến 15, tức 3 ngày sau đài báo mới loan tin. Tất cả các thông tìn đều giống nhau "Thượng tướng Thi Văn Tám - Thứ trưởng Bộ Công an, vừa từ trần hồi 2 giờ ngày 12/12/2008 tại TPHCM . Sau một thời gian lâm bệnh, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước, Bộ Công an, gia đình và các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa, nhưng vì bệnh nặng, đồng chí đã từ trần hồi 2h00', ngày 12/12/2008 (tức ngày 16/11 năm Mậu Tý) tại TP Hồ Chí Minh."



    Không có báo nào giải thích Tướng Tám bị chết vì bệnh gì? bệnh bao lâu? nằm bệnh viện nào? Bác sĩ tuyên bố bệnh trạng trầm trọng ra sao? và chết như thế naò? Trước cái chết của Thượng tướng công an, cả trăm tờ báo đều loan tin giống nhau, đó là "sau thời gian lâm bệnh, dù được Đảng và nhà nước cho bác sĩ tận tâm cứu nhưng vì bệnh nặng nên đồng chí Tám đã từ trần". Điều này có nghĩa là thông tin về cái chết của Thượng Tướng Thi Văn Tám đã được Bộ Công an chuyển ra báo chí để loan báo một cách rất hạn chế, mập mờ.





    Một vị tướng làm tới chức Thượng Tướng, lại là tướng chuyên chống gián điệp thì ông ấy có lắm kẻ thù ở bên ngoài vì biết quá nhiều chuyện tối mật. Bên trong, ông ấy có thể bị đảng thanh trừng vì những tranh dành quyền lực, vì những bí ẩn "thâm cung bí sử" trong triều đại CS. Việc Tướng Thi Văn Tám đột tử vì nhiều nguyên do bí ẩn, ngoài lý do bị "bệnh nặng" như thông tin của Đảng, không loại trừ khả năng ông Thượng Tướng Thi Văn Tám bị Đảng cho thủ tiêu vì tranh dành quyền lực.






    Ngày 12 tháng 12 năm 2008, Tướng Thi Văn Tám bị đột tử, chết không rỏ lý do. Thông tin Đảng nói chỉ vỏn vẹn là "đồng chí bị bệnh nặng". Điều không bình thường là nếu Tướng Tám bị bệnh nặng, bệnh mãn tính và đã được đảng tận tâm điều trị thì Tướng Tám và gia đình phải biết ông bị bệnh gì? bệnh trạng kéo dài bao lâu? trước đó đã chửa trị, thuốc men như thế nào? Bao nhiêu ngày tháng nằm bệnh viện, ở đâu? bác sĩ điều trị chuẩn y ra sao v.v.. Rõ ràng cái chết của ông Thượng Tướng Thi Văn Tám là cái chết độc tử, mờ ám. Độc tử vì trước khi chết ông Tướng Tám đã rất khỏe, bình thường, phục vụ công tác Đảng CSVN đắc lực, đạt nhiều công trạng cho đảng nên đã được liên tục được thăng cấp. Tháng 2/2002, đồng chí Tám được thăng cấp bậc hàm Thiếu tướng; tháng 12/2004, được thăng cấp bậc hàm Trung tướng; tháng 12/2008, được thăng cấp bậc hàm Thượng tướng An ninh nhân dân. Đặc biệt, Tướng công an Thi Văn Tám là người đã ra lệnh an ninh triệt tiêu và đàn áp thẳng tay, đánh đập dã man các anh chị em hoạt động trong Phong trào Dân chủ.






    Tháng 12 năm 2008 ông đã được Bộ Chính Trị thăng cấp Thượng tướng, nghĩa là chỉ trong vòng có hơn 10 ngày trước khi chết "đồng chí" Trung Tướng Thi Văn Tám còn được thăng cấp lên Thượng Tướng. Rà xét lịch trình làm việc của Thượng Tướng Tám cho thấy ông rất khỏe mạnh, không có dấu hiệu bị bệnh. Sinh năm 1948, Thượng tướng Thi Văn Tám còn rất trẻ và sức khoẻ để cống hiến cho Đảng. Ông đi công tác xa liên tục, không có thời gian nào bị gián đoạn. Như vậy suốt thời gian trước và sau khi phong cấp, ông Tướng Thi Văn Tám không có nằm bệnh viện, không có bi bệnh nặng đến nỗi bác sĩ tài giỏi của Đảng CSVN phải bó tay như thông tin Đảng loan báo.





    Ngày 26 tháng 10 năm 2008, Trung tướng Thi Văn Tám đã xuống tận Kiên Giang để tham dự cuộc họp với Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Campuchia. Những lãnh đạo an ninh cộng sản tham dự phiên họp quan trong này bên cạnh ông Thi Văn Tám còn có cả Đại tướng Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công An và Thứ trưởng công an, Trung tướng Lê Thế Tiệm.





    Ngày 14/11 năm 2008, Trung tướng Tám đã đi công tác xa đến tận Đắc Lắc để đón nhận huân chương Hồ Chí Minh trao tặng cho công an tỉnh này. Ông không những vượt đường sá xa xôi, chỉ đến cho có mặt mà còn phát biểu nữa. Như vậy Tướng Tám không có dấu hiệu suy yếu, sức khỏe có vấn đề, thậm chí còn khỏe hơn bình thường. Các báo đảng đã loan tin chuyến thăm Đắc lắc như sau: "Thừa ủy quyền Chủ tịch nước, Trung tướng Thi Văn Tám, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an đã gắn Huân chương Hồ Chí Minh lên lá cờ truyền thống vẻ vang của Công an Đắk Lắk, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Thi Văn Tám nhiệt liệt biểu dương những thành tích đặc biệt xuất sắc mà cán bộ, chiến sỹ Công an Đắk Lắk đạt được trong thời gian qua, đã vô hiệu hóa mọi âm mưu phá hoại của các thế lực phản động, phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các loại tội phạm, xây dựng lực lượng CAND ngày càng trong sạch, vững mạnh."






    Ngày 19 tháng 11 năm 2008, Trung tướng Thi Văn Tám, tháp tùng cùng các vị quan chức an ninh trong Bộ Công An đã xuống tận các tỉnh phiá Nam, đồng bằng sông Cửu Long để tham dự lễ lỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20 -11-08.






    Tháng 12 năm 2008 sau khi thăng chức từ Trung Tướng lên Thượng Tướng thì vài ngày sau ông bị chết "bắc đắc kỳ tử". Trước đó, từ năm 2006 đã có thư tố cáo Trung tướng Thi Văn Tám, người tố cáo ký tên Phạm Gia Khánh, tự xưng là cán bộ trong Tổng cục an ninh, gửi đích danh các Uỷ viên Chính trị bộ như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Lê Hồng Anh v.v... Bức thư tố ông Tướng Thi Văn Tám có lý lịch bất minh ..."Trong quá trình công tác, ông Thi Văn Tám luôn tìm cách che giấu lý lịch về nguồn gốc xuất thân, quá trình hoạt động của người cha. Ngay từ khi còn trai trẻ, mỗi khi anh em, bạn bè trong Tổng cục An ninh tại TP. Hồ Chí Minh hỏi về người cha thì ông Thi Văn Tám luôn tìm cách lảng tránh, không trả lời. Khi tổ chức yêu cầu, ông luôn khai báo chung chung và không muốn ai biết về lý lịch của mình. Cho đến nay, cũng chưa có ai xác dịnh rõ việc che giấu lý lịch của Thi Văn Tám là nhằm động cơ gì, nhưng rõ ràng là có uẩn khúc, mà chúng ta đã có những bài học đắt giá khi sử dụng người mà không tìm hiểu kỹ về lý lịch để gây ra những hậu quả khôn lường. Tôi được biết, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa IX nhiều lần không đồng ý bổ nhiệm ông Thi Văn Tám vào chức Thứ trưởng Bộ Công an. Thế nay đột nhiêu ông Thi Văn Tám được bổ nhiệm vầo chức vụ này, làm cho anh em cán bộ Tổng cục An ninh nghỉ hưu tại TP. Hồ Chí Minh rất bức xúc, trăn trở, lo lắng vận mệnh an ninh của đất nước lại trao cho một người hoàn toàn không xứng đáng về đạo đức, tài năng."






    Bức thư cũng tố cáo ông Tướng Thi Văn Tám tham nhũng "đã đưa rất nhiều dự án về cục A35, trị giá nhiều tỷ đồng, rồi ông trực tiếp phụ trách. Những dự án đó đã được ông Thi Văn Tám khoác cho những tấm áo vì yêu cầu nghiệp vụ, nên không chịu bất cứ sự ràng buộc, giám sát nào, nên ông ta mặc sức sử dụng vào nhu cầu cá nhân. Tôi được biết, ông đang sở hữu một ngôi nhà lớn ở TP. Hồ Chí Minh. Có doanh nghiệp khi biết ngôi nhà đó của ông Tổng cục trưỏng Tổng cục An ninh đã thuê với giá trên 20.000 USD/tháng, mặc dù giá trị thực tế không thể đến mức đó."






    Bức thứ tố Tướng Thi Văn Tám, theo dư luận tiết lộ là do tranh giành ảnh hưởng trong nội bộ nên cán bộ an ninh, thuộc Bộ Công An nhận lệnh viết thư tố cáo nhằm làm giảm uy tín của Tướng Thi Văn Tám, vì ông Tám là cánh tay mặt của Thứ trưởng Bộ công an, tướng Nguyễn Khánh Toàn. Như vậy cái chết độc tử của ông Thượng Tướng Thi Văn Tám ngày 12 tháng 12 năm 2008 có thể là do nội bộ thanh toán. Hoặc Tướng Nguyễn Khánh Toàn ra tay cho bịt miệng đầu mối, hay Thứ trưởng Bộ Công an, Tướng Nguyễn Văn Hưởng cho đàn em chặt tay chân, vây cánh của tướng Toàn do hai bên từ lâu đã có thù nghịch, tranh dành ảnh hưởng, ngắm nghiá cái ghế Bộ Trưởng Bộ Công An? Hay do chính các thế lực ngoại bang nào khác?






    Ở tuổi 60, công trạng đầy mình, cống hiến cho Đảng cả cuộc đời cũng như gây biết bao tội ác, tai hoạ cho lực lượng dân chủ. Ông Thi Văn Tám nếu không bị Đảng giết sớm vì tranh dành quyền lực thì cũng sẽ phải ra tòa án công luận, trả lời về những tội lổi từng gieo rắt đối với Phong Trào Dân chủ Việt Nam. Thực là Ác lai, Ác báo, mới vừa được Đảng phong chức Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an hôm trước, hôm sau bị giết ngay. Cái chết bí ẩn của Thượng Tướng Thi Văn Tám chỉ có đảng CSVN mới có câu trả lời.

    Việt Nam ngày 16 tháng 12 năm 2008

    Trả lờiXóa
  8. Nặc danh9/1/09 12:47

    Ai Giết Thượng Tướng Thi Văn Tám?

    Hoàng Giang - ĐDCND

    An táng Thượng tướng Công an Thi Văn Tám (Hình Báo Công an)

    Ngày 12 tháng 12 năm 2008 ông Thi Văn Tám, Thượng tuớng Công an, đặc trách về gián điệp đã bị đột tử. Mặc dù báo đài thông tin ông tướng Tám bị "bệnh chết" nhưng các thông tin mật và những sự kiện gần đây cho thấy ông Tướng Tám đã bị thanh toán chết. Có dư luận cho rằng trên chuyến công tác bay về lại Thành phố, vừa đến nhà thì ông chết, vì uống nước bị thuốc độc trên máy bay. Tin khác cho biết ông Tướng Tám dự trù đi Thủ Đức và Bình Thuận để thăm trại giam, chuẩn bị cho màn trình diễn đặc xá tù đầu năm 2009. Trên đường đi thì bị giết, chuyến công tác phải đình hoãn và giao lại cho Thượng tướng Lê Thế Tiệm.

    Việc các tướng lãnh Công an gần đây bị đột tử do tranh giành quyền lực hoặc vì nhu cầu cần bịt đấu mối cũng không phải là điều ngạc nhiên. Trong giới công an, nhất là phiá Tổng Cục Tình Báo cũng đã thủ đắc nhiều phương tiện mờ ám, tài chánh và nhân sự chuyên nghiệp, nên ra tay hạ độc thủ chỉ là chuyện ‘thường ngày ở huyện".

    Trước kia, đối với phiá quân đội, hàng loạt vụ thủ tiêu đã từng xảy ra. Cái chết cũa những Tướng như Hoàng Văn Thái, Chu Văn Vấn, Lê Trọng Tấn v.v.. đã làm cho tập thể tướng lãnh CSVN phải thần phục đảng qua cơ cấu quyền lực Tổng Cục 2 (TC2). Năm 1987, Lê Đức Anh đột nhiên lên nắm Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng ngay sau cái chết mờ ám của đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn. Sau đó, Lê Đức Anh đã chỉ thị cho Trung tướng Phan Bình phải về hưu, giao toàn bộ Cục Quân Báo cho đàn em của Lê Đức Anh. Cục Quân Báo, tức Cục 2 đổi thành Tổng Cục 2 (TC2). Vừa bàn giao lại nhiệm vụ thì Trung tướng Phan Bình cũng bị giết chết ngay.
    Nhân Tướng Tám bị đột tử, đang trong vòng "nghi vấn", tưởng cũng nên nhắc lại sự kiện Trung tuớng Phan Bình, Cục trưởng Cục An ninh Tình báo của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, đã bị giết bất đắc kỳ tử. Đêm 13 tháng 12 năm 1987, tại nhà nghỉ Cục 2, số 30 Lê Qúy Đôn, TP Hồ Chí Minh khi Tướng Phan Bình từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh để thăm viếng bạn bè, các đầu mối quen biết cũ thì bị ám sát chết. Tướng Phan Bình cũng giống như Tướng Thi Văn Tám, cả hai đều nắm chuyên nghành tình báo. Có khác chăng là Tướng Bình thuộc quân đội và đã nghĩ hưu sau khi bàn giao hết các nhiệm vụ lại cho cục trưởng mới - Tư Văn thì bị giết để bịt đầu mối mà theo dư luận cho rằng đây là đòn hạ thủ của Tổng Cục 2 (TC2).

    Sau cái chết của Trung tướng Phan Bình, Tổng Cục 2 đã báo cáo lên TW đảng CSVN là vì "đồng chí Phan Bình bệnh tâm thần nên đã tự sát". Dù vậy, giới tình báo quân đội và nhiều lãnh đạo Đảng không thuộc cánh TC2 đều biết Trung Tướng Phan Bình đã bị giết, TC2 tạo dựng chứng cứ giả để bưng bít, lưà dư luận. Điều này, Trung tướng Quân đội, Uỷ viên Trung ương Đảng như Lê Văn Hiền, Thượng tướng Nam Khánh, Thượng tướng Nguyễn Minh Châu v.v...cũng đều xác nhận như vậy.

    Theo báo cáo của TC2 thì "đồng chí" Phan Bình đã tự sát. Nhưng theo lời thuật của Tướng Nguyễn Minh Châu, tư lệnh quân khu 7 thì báo cáo đó không đúng sự thực. Trung tướng Phan Bình bị giết chết đêm 13 tháng 12 năm 1987, trong tư thế ngã sấp trước phòng khách, sát thủ bắn ngay đầu, toác một lỗ thủng rất rộng, chứng tỏ người bắn ở cự ly gần, quen biết và tiếp cận Tuớng Phan Bình rồi bất ngờ rút súng bóp cò nên Tướng Bình trở tay không kịp. Hơn nữa, sau khi bàn giao lại nhiệm vụ Cục trưởng Cục An ninh Tình Báo cho Tư Văn, Tướng Bình đã bị lấy lại súng ngắn, nhẽ ra ở cương vị của ông phải có súng để phòng thân. Điều này sát thủ đã được thông báo trước nên an tâm, ra tay gọn nhẹ.

    Tàn bạo hơn nữa là sau khi Tướng Phan Bình bị giết, một tháng sau, con trai của ông, sỹ quan trong quân đội cánh quân báo, phát giác cái chết của cha mình do bị "ám sát" thì cũng chết một cách mờ ám khi bị ép đưa vào bệnh viện lý do ‘tâm thần'. Như vậy, chỉ trong vòng một tháng, cả bố lẫn con Tướng Phan Bình bị giết chết với những thủ đoạn tàn ác, mờ ám và bất chấp dư luận. Cái chết của cha con Tướng Phan Bình đã làm cho cánh quân đội, nhất là sỹ quan cao cấp trong Cục An Ninh Tình Báo (Quân Báo) rúng động, hoảng sợ, gieo rắt không khí khủng bố bao trùm lên các lãnh đạo quân đội có liên hệ với Tướng Phan Bình.

    Chính TC2 đã được cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ký pháp lệnh tình báo và nghị định 96/CP, điều 21, chương 2 như sau: "Tổng cục tình báo (TC2) thuộc Bộ Quốc phòng trong trường hợp cần thiết được sử dụng danh nghĩa và phương tiện làm việc, con dấu hoặc các giấy tờ giao dịch của các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, ...".... để hoàn thành nhiệm vụ của TC2 kể cả "ám sát".

    Đối với ai còn xa lạ về vai trò, thế và lực của TC2 thì cũng nên nhắc laị, Tổng Cục 2 hay goi là TC2 nằm dưới quyền thống trị của Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, con trai Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh. TC2 với khả năng tài chánh vô hạn, gần bằng nửa ngân sách của Bộ Quốc Phòng, không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào để đạt mục đích từ mua chuộc với các chức vụ có bổng lộc, gái, tham nhũng, hủ hoá v.v.. để khống chế cho đến đe doạ, sẳn sàng hạ thủ lấy tính mạng của đối thủ, không chỉ một người mà luôn cả gia đình, dòng họ.

    TC2 là một tập đoàn có tính gia đình trị bao gồm cựu Tổng cục trưởng Trung tướng Vũ Chính, bố vợ của Nguyễn Chí Vịnh, Đại tướng Lê Đức Anh, là bố nuôi của Nguyễn Chí Vịnh. Vì vậy, nói đến TC2 tức là nói đến quyền lực của Lê Đức Anh, trải rộng ở trong quân đội và lan tràn ra các cơ quan Đảng khác như Bộ Công An, Bộ Ngoại Giao, Văn phòng Thủ Tướng, Chính phủ v.v...để cài cắm người, nắm tin tức tình báo và thi hành độc thủ khi cần.

    Dưới chế độ CS, việc thủ tiêu, ám sát, đầu độc là chuyện nhỏ. Với chủ trương cứu cánh biện minh cho phương tiện, đảng CSVN sẳn sàng làm bất cứ điều gì để đạt mục tiêu, không những đối với các chiển sĩ dân chủ mà ngay cả trong nội bộ của họ nữa. Không ai hiểu rỏ điều này bằng chính Lê Đức Anh, kẻ đã ra lệnh cho TC2 hạ thủ không biết bao nhiêu người. Vì vậy, khi Lê Đức Anh lên cơn đau tim phải đưa vào bệnh viện cấp cứu, Lê Đức Anh đã cương quyết không uống thuốc vì sợ có kẻ lén bỏ thuốc độc.

    Đến nay, dư luận vẫn không giải thích được lý do tại sao Tướng Phan Bình bị giết? Ông đã nắm những thông tin gì có hại cho TC2 đến nổi vừa bàn giao xong nhiệm vụ cho Cục Trưởng mới thì bị Lê Đức Anh ra lệnh giết ngay. Đối với Thượng Tướng Công An Thi Văn Tám cũng vậy? Nhiều câu hỏi đặt ra qua cái chết đột tử của ông? Lý do gì Tướng Thi Văn Tám bị chết? Ai giết? tranh giành điều gì? Che đậy cái gì? TC2 hay đã có thế lực nào khác?

    Từ lâu, Bộ Công An và TC2 thuộc cánh quân đội đã không ưa nhau, tranh dành quyền lực, ảnh hưởng và vây cánh, tìm cách hạ độc thủ nhau. TC2 đã nhiều lần chặt hết vây cánh của Bộ Công An, phải chăng lần này cũng là một đòn "tiên hạ thủ vi cường" của TC2 đối với Bộ Công An?

    Việt Nam ngày 20 tháng 12 năm 2008

    Trả lờiXóa
  9. Nặc danh9/1/09 12:48

    Hà Nội thanh trừng một loạt các tướng lãnh vì sợ bị đảo chánh !

    --------------------------------------------------------------------------------

    Tin Hà Nội - Những tin tức mới nhất được tiết lộ bởi một cựu Trung tướng của bộ đội Cộng sản Việt Nam hồi hưu làm cho người ta biết thêm về những vụ thanh toán của Chính Trị Bộ đối với các tướng lãnh Cộng sản vì sợ bị đảo chánh.
    Theo một bản tin được gởi đi từ Việt Nam đã nhắc lại cái chết của toàn bộ Bộ tư lệnh và tham mưu của quân khu 4 đã chết thảm trong chuyến đi thị sát huấn luyện quân sự, mà nguồn tin này cho rằng đó là một âm mưu thanh trừng của Bộ Chính Trị khi biết được những vị tướng này không đồng ý và chống lại những nhượng bộ liên quan đến việc Trung Cộng gây áp lực quân sự và chiếm lấy các quần đảo của nước Việt Nam.

    Họ đã ngấm ngầm chuẩn bị loại Bộ Chính Trị bằng giải pháp đảo chính ôn hòa là bắt Bộ Chính Trị phải giải tán và lập ra ủy ban quân quản lâm thời cho đến khi triệu tập toàn thể ban chấp hành trung ương để bầu lại một bộ chính trị mới, sau đó triệu tập quốc hội để thành lập chính phủ. Tin này lọt ra ngoài nên toàn bộ những tướng lãnh này đã bị tiêu diệt và bị che dấu khi gọi đó là một tai nạn máy bay. Sự kiện xảy ra ngày 27 tháng giêng năm 2005 khi chiếc máy bay trực thăng chở đoàn cán bộ cao cấp của Quan khu 4 tren đường đi kiểm tra công tác huấn luyện thì bị tai nạn. Trong số những người hy sinh có Trung tướng Trương Ðình Thanh Tư lệnh Quân khu; Thiếu tướng Nguyễn Bá Tuấn Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 4; Ðại tá Lê Hữu Phúc là chủ nhiệm chính trị quân khu.

    Trong số này còn có Ðại tá Nguyễn Văn Minh cục phó cục Kỹ thuật; Ðại tá Trần Quang Lộc, cục trưởng cục Hậu cần; Ðại tá Trần Kiểu là trưởng phòng tác chiến, cùng một số các sĩ quan cấp thấp hơn và 3 phi công theo đoàn. Sau đó Bộ Chính Trị đã nhóm họp và nghiên cứu lại toàn bộ nhân sự và tổ chức của quân đội Nhân Dân Cộng sản Việt Nam. Sau khi điều tra theo hệ thống cấp quân ủy, cấp ủy trong quân đội rà xét thật kỹ lưỡng, Bộ Chính trị đã đồng loạt thay đổi nhân sự như hoán chuyển, thăng cấp và cho về hưu, đồng thời chỉnh đốn lại hàng ngũ Công An.

    Vì Bộ Chính Trị không còn tin tưởng vào quân đội, họ luôn luôn nghi ngờ và lo sợ quân đội sẽ làm phản và đảo chính. Họ cũng lo lắng lực lượng công an sẽ phối hợp hành động với quân đội vì một số vị lãnh đạo của Công An trước kia cũng xuất thân từ quân đội. Vì lẽ đó Bộ Chính Trị đã ra tay trước là chọn lựa những người trung thành để nắm những chức vụ quan trọng của ngành Công An để bảo vệ Bộ Chính Trị khi xảy ra biến cố. Ngày 25 tháng 4 năm 2007, Hà Nội ra lệnh thăng cấp hàng loạt Công an từ Ðại tá lên Thiếu tướng, và từ Thiếu tướng lên Trung tướng. Ngày 7 tháng 2 thay đổi và bổ sung một số tướng lãnh, nhưng đến ngày 14 tháng 12 lại cho nghỉ hưu hàng loạt các tướng lãnh cũ. Ðến tháng 7 năm 2008, toàn bộ tự lệnh và bộ tham mưu của quân khu thủ đô bị Bộ Chính Trị cách chức bằng cách cho về hưu hay thuyên chuyển công tác vì có những nghi ngờ bên trong nhưng sau vụ thanh trừng lãnh đạo quân khu 4.

    Tại Hội Nghị lần thứ 4 của Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra một nghị quyết theo đó các cơ quan quân đội, công an đang tham gia vào công tác kinh doanh phải chuyển cho nhà nước quản lý bắt đầu từ năm 2008. Nguồn tin này còn cho biết cái chết của Thượng tướng công an Thi Văn Tám đặc trách về gián điệp đã bị thanh toán chết. Những người hiểu chuyện đều cho biết là trên chuyến công tác bay về lại thành phố, vừa đến nhà thì ông chết vì uống nước bị thuốc độc trên máy bay. Tin khác cho biết ông Tướng Tám dự trù đi Thủ Ðức và Bình Thuận để thăm trại giam, chuẩn bị cho màn trình diễn đặc xá tù vào dịp Tết Nguyên Ðán sắp tới nhưng nay đã bị giết, chuyến công tác phải đình hoãn và giao lại cho Thượng tướng Lê Thế Tiệm.

    Việc tướng lãnh Công an gần đây bị đột tử do tranh giành quyền lực hoặc vì nhu cầu cần bịt đấu mối cũng không phải là điều ngạc nhiên. Trong giới công an nhất là phía Tổng Cục Tình Báo cũng đã từng thực hiện hàng loạt các vụ thủ tiêu những tướng lãnh như Hoàng Văn Thái, Chu Văn Vấn, Lê Trọng Tấn, Phan Bình. Những chứng cứ trên đây cho thấy Hà Nội đang muốn xiết chặt việc kiểm soát quân đội cũng như ngành tình báo để bảo vệ đảng và Chính Trị bộ, cũng như để chống lại những âm mưu muốn lật đổ chế độ hiện nay vì sự bất mãn đã dâng cao sau khi đảng Cộng sản và nhà nước đã cắt đất dâng biển cho Trung cộng trong thời gian vừa qua.

    (Nguồn: sbtn.net)

    Milou....Milou...Let's go

    Trả lờiXóa
  10. Nặc danh9/1/09 12:49

    Tại Sao Ông Phạm Văn Đồng Lại Xác Nhận Quần Đảo Hoàng Sa Và Trường Sa Cho Trung Cộng?
    Lê Nguyên Hồng
    Các bài liên hệ:
    Bãi Tục Lãm: Lại Mất Thêm Đất !


    TẠI SAO ÔNG PHẠM VĂN ĐỒNG
    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
    LẠI XÁC NHẬN CÁC HẢI ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CHO TRUNG CỘNG?

    Công dân cựu bộ đội "quân đội nhân dân Việt Nam" - Lê Nguyên Hồng

    Một sự thật được ém nhẹm và là “Bí Mật Của Đảng” xem ra không thể nào dấu kín được nữa, nếu ngày 14/09/2008 phía Trung Quốc họp báo công khai công hàm của ông Phạm Văn Đồng, nguyên Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã xác nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc.

    Sau 50 năm, một sự thật được tiết lộ một cách phủ phàng, mặc dù trước đây cũng đã có những thông tin nhưng chưa chính thức. Giờ đây chúng ta bàng hoàng, thảng thốt: Vì sao? Vì sao?

    Nhưng trước hết chúng ta hãy cùng nhau điểm qua một vài chứng cớ lịch sử về hai quần đảo này:

    Ai trong chúng ta cũng biết rằng: Hoàng Sa và Trường Sa là mảnh đất thiêng liêng của nhân dân Việt Nam. Chủ quyền hai quần đảo này đã được chứng minh bằng những chứng cớ lịch sử của những cư dân qua các triều đại phong kiến cho đến nay. Họ ! Những chủ nhân đích thực đã quản lý và khai thác trên vùng biển đảo này hàng mấy trăm năm nay.

    Không những các tài liệu đã được lưu giữ trong nước, mà còn có rất nhiều tài liệu do người nước ngoài viết lại, thể hiện chủ quyền của nước ta như:

    1 Sách Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán, viết năm 1696.
    2 Hoặc các tác giả người Âu Châu như: Lepoivric ( 1749), Taberd(1833), Gutzlaff ( 1849). Còn theo sử sách trong nước, chúng ta cũng có đủ bằng chứng về chủ quyền của nước Đại Việt, gồm cả hai triều Trịnh- Nguyễn phân tranh (đều phò vua Lê) qua các sách: Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ có Hồng Đức Bản Đồ hay Thiên Hạ Bản Đồ, trong Toản Tập An Nam Lộ là tác phẩm của Đỗ Bá Cung soạn năm Chính Hòa thứ 7 ( 1686 ).

    Trong sách của nhà bác học Lê Quí Đôn năm 1776 có tên Phủ Biên Tạp Lục, tấm bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ có lời chú giải rằng: “ Giữa bãi cát vàng ( Hoàng Sa ) dài tới 400 dặm…” “ Nhà Nguyễn, mỗi năm vào cuối mùa đông đều đưa 18 chiến thuyền đến lấy hàng hóa, vật phẩm như là vàng bạc, tiền tệ và súng đạn …”

    Bàn đồ trong Toản Tập An Nam Lộ thì ghi rõ “bãi cát vàng” nằm ở phía trước của các địa danh trên đất liền như : Đại Chiêm, Sa Kỳ, Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa ( Quảng Ngãi ).

    Bộ chính sử Đại Nam Thực Lục do Quốc Sử Quán ấn hành của triều Nguyễn có ghi: Thủy quân đội Hoàng Sa ra đảo xem xét và đo đạc thủy trình( quyển 50 và 52 đời Gia Long)…Và chưng miếu lập bia, trồng cây làm mốc chủ quyền ( quyển 104,122,154,165 đời Minh Mạng). Và còn rất nhiều bằng chứng khác như trong ngành khảo cổ về các Bài Gỗ ( cột móc ) dài từ 4-5 thước, rộng 5 tấc (đơn vị đo) mà các Cai Đội Thủy Quân thời xưa có trách nhiệm đem ra dựng tại các đảo và có khắc chữ như : ngày…tháng…năm…và tên của người Cai Đội v.v…

    Bằng chứng chắc chắn là còn rất nhiều, nhưng trong bài viết này, tôi chỉ xin liệt kê một số tài liệu mà mình biết để chứng minh: Hoàng sa và Trường Sa là của đất nước Việt Nam !!!

    Trở lại vấn đề của ông Phạm Văn Đồng, tôi có mấy ý kiến và chất vấn như sau: Ông Đồng là người ở trên cương vị Thủ Tướng chính phủ VNDCCH ở miền bắc VN có thời gian tại nhiệm lâu nhất từ trước đến nay ( có lẽ cả sau này nữa) trên cả đất nước Việt Nam được tái thống nhất. Ông được đảng Cộng sản VN và nhà nước Việt Nam đương thời tôn sùng nào là nhà văn, nhà văn hóa tư tưởng, nhà quân sự có tài…v.v... và v.v...có lẽ về thứ bậc thì chỉ sau Hồ Chí Minh mà thôi. Vậy ông phải đọc, phải học nhiều sử sách và ông quá biết những tài liệu lịch sử như trên chúng tôi đã đưa dẫn và chắc chắn là ông còn biết nhiều hơn, nếu không thì ông làm sao mà lãnh đạo được chính phủ của một quốc gia? Vậy thì, tại sao ông Phạm Văn Đồng lại đi công nhận mảnh đất, biển trời thiêng liêng của Cha Ông chúng ta để lại, là của Trung Quốc?

    Trước khi ông ký vào Công hàm ngày 14/9/1958 tức cái biên bản ( phải gọi là biên bản mới đúng) để “ nhượng quyền sở hữu đất” nghiêm trọng tày trời như vậy, liệu có sức ép nào từ trung ương đảng Lao Động Việt Nam thời đó hay không ? Hoặc là có điều kiện gì đặc biệt từ phía chính phủ Trung Quốc đến với ông hay không?

    Trước khi ông ký vào công hàm mang tính “ Hiệp Ước” đó, ông có được họp bàn cùng Trung ương đảng lao động Việt Nam cùng ông Hồ Chí Minh về việc này hay không? Nếu có thì các văn bản đó hiện giờ ở đâu? Hay đây là sáng kiến của riêng ông Phạm Văn Đồng? Đến đây thì chúng ta mới hiểu ra rằng: tại sao ngày 19/01/1974, Trung cộng tấn công cướp đảo Hoàng Sa (lúc đó quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang canh giữ) thì chính quyền Hà Nội hoàn toàn câm lặng.

    Người ta thường nói: Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại! Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện triệt để câu nói này. Nhưng họ nên biết, Cha Ông chúng ta còn có câu: cái kim bọc trong giẻ có ngày cũng lòi ra hay là cháy nhà ra mặt chuột, sớm hay muộn thì cái xấu cũng phải phơi bày và sự thật vẫn là sự thật. Viết đến đây thì tôi lại nghi ngờ rằng: liệu có ngày nào, chúng ta sẽ phát hiện ra thêm những văn bản nhượng đất, nhượng biển, nhượng núi, nhượng sông cho ngoại bang mà từ lâu nay vẫn là Bí Mật Của Đảng CSVN nữa hay không? Như vậy là đã rõ! Sau 63 năm kể từ ngày 02/09/1945, chúng ta phải nhìn nhận một cách khách quan sự kiện này, nhìn nhận thật minh bạch: Ai là người làm nên lịch sử? Đó chính là nhân dân Việt nam, chứ không phải là do đảng cộng sản hay một vài cá nhân được suy tôn theo kiểu, Hồ Chí Minh ca ngợi Hồ Chủ Tịch, các nhà báo Trần Dân Tiên, T. Lan ca ngợi Bác Hồ, anh Ba ca ngợi anh Lê Duẩn, anh Đặng Xuân Khu ca ngợi anh Trường Chinh và anh Tô ca ngợi anh Phạm Văn Đồng....vv....

    Như vậy cũng lại rõ, suốt 50 năm qua chúng ta đã bị lừa dối về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta đã bị lừa dối về Bản Hiến Pháp năm 1959, cũng như về Bản Hiến Pháp 1992 và về “ Tuyên Ngôn Độc Lập” trước đó. Còn biết bao nhiêu hứa hẹn chót lưỡi đầu môi khác, hay về các quyền căn bản của con người như: quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do mưu cầu hạnh phúc và rồi đến quyền tự do tín ngưỡng, tự do lập hội, tự do cư trú…Tự Do ! Tự Do và Tự Do !!!!.... Nhưng trên thực tế tại Việt Nam từ khi hình thành chế độ chính trị do ĐCSVN nắm quyền sinh sát cả dân tộc này kể từ ngày 2/9/1945 ở ngoài Bắc và sau này trên nốt phần lãnh thổ nửa nước trong miền Nam kể từ ngày 30/4/1975 là không có tự do nào hết !!!

    Như vậy lại rõ ! Sau 33 năm chúng ta thấy được rằng, cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam-Bắc là hoàn toàn vô nghĩa, vô lý đã đẩy lùi lịch sử và gây bao đau thương tan tóc cho đồng bào cả nước. Và, cuối cùng chỉ phục vụ lợi ích cho một nhóm đảng viên cộng sản cao cấp ở chóp bu có chức quyền, chứ nhân dân thì chẳng được gì, có chăng là những chiếc bánh vẽ hay là những tàu bay giấy mà thôi !

    Vì vậy, thay cho lời kết, tôi xin nói lên rằng: Hãy cảnh giác! Hãy làm theo những gì Đảng( CSVN ) đã nói và đừng làm theo những gì Đảng (CSVN ) đã làm!

    Ngày 11/09/2008
    Công dân Lê Nguyên Hồng
    Thành viên Phong trào đấu tranh đòi dân chủ Việt Nam và của Khối 8406.

    Trả lờiXóa
  11. Nặc danh9/1/09 12:50

    50 Năm Bức Công Hàm ban' nuoc' cua thu tuong' csvn pham van dong` qua Ô Nhục:

    BNS Tự Do Ngôn Luận
    Các bài liên hệ:
    Bãi Tục Lãm: Lại Mất Thêm Đất !

    Nhờ lòng tận tụy mẫn cán, tuyệt đối trung tín, tối mặt vâng lời đảng của lực lượng công an cảnh sát, của giới giáo chức đại học, của hàng thủ lãnh đoàn thanh niên Cộng sản, cũng như nhờ sự im lặng đồng lõa, dửng dưng bất biết của nhiều lãnh đạo tinh thần, ngày 14-09-2008, thay vì biến thành một hội nghị Diên Hồng thời mới, xé toang Công hàm bán nước ô nhục cách đây 50 năm, thì đã lặng lẽ trôi qua trong tinh thần “ổn định chính trị”!!! Không lặng lẽ trôi qua sao được khi những “tên đầu sỏ” dám khua môi múa mép chống lại Thiên triều, giăng biểu ngữ phản đối Đại Hán, cất cao giọng đòi Bộ chính trị rửa nhục, đã bị cho vào nhà đá hay bị canh giữ tại nhà tư kể từ hôm 10-09 và những ngày kế tiếp rồi.

    1- Cách đây 50 năm, cũng trong sự lặng lẽ của toàn xã hội miền Bắc, sự câm nín của Quốc hội bù nhìn nước Việt Nam Dân chủ, bộ chính trị mà đứng đầu là Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã mau mắn đáp lời đàn anh Trung Quốc vĩ đại. Các “đồng chí kính mến, không thể sai lầm” Mao Chu vừa viết: “Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa [tức Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [tức Trường Sa], và các đảo khác thuộc Trung Quốc”. Thế là, dù biết đó là đất đai tiên tổ để lại mà người anh em đồng bào khác chính thể đang quản lý, và đang khi Tuyên bố của Trung Quốc còn chưa ráo mực, Hồ Chí Minh cũng đã ngang nhiên chỉ thị cho Phạm Văn Đồng trả lời: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”. Quả thật Trần Ích Tắc, Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Thống cùng bao tên bán nước trong lịch sử dân tộc phải bái Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng làm sư phụ vì họ đã không mau mắn quỵ lụy Triên triều bằng. Lịch sử mấy nghìn năm chống Bắc phương của Đại Việt kể như chấm dứt từ giây phút đó!

    Chưa hết, hơn một tuần sau, báo Nhân dân ra ngày 22-09-1958 đã đăng toàn văn Công hàm vừa kể, để toàn đảng, toàn dân và toàn cầu biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa. Đến tháng 02-1972, Cục Đo đạc và Bản đồ, trực thuộc phủ thủ tướng CSVN, lại phát hành Tập Bản Đồ Thế Giới, trong đó Hoàng Sa và Trường Sa bị đổi tên là Tây Sa và Nam Sa, đúng theo ý muốn của Trung Quốc. Rồi để giáo dục cho các thế hệ trẻ, Sách địa lý xuất bản năm 1974, trong bài "Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa" có viết rằng: "Chuỗi hải đảo từ Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) tới Hải Nam và Đài Loan là bức tường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc". Tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng (của những tên Việt cộng nằm vùng Ngô Công Ðức, Lý Quý Chung…), trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực ngày 19-01-1974, đã nói: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi!”. Khi nào ta muốn lấy lại thì Trung Quốc sẵn sàng giao trả !?! Rồi dù ngày 14-3-1988, Việt Cộng và Trung Cộng đã giao tranh đẫm máu tại Trường Sa khiến cho 74 chiến sĩ Quân đội Nhân dân vị quốc vong thân và một số đảo ở đấy rơi vào tay Trung Cộng (nhưng tin tức bị giấu nhẹm trên báo đài), trên tờ Nhân Dân số ra ngày 26-4-1988 ngay sau đó, Việt Cộng vẫn xác nhận sự kiện Hồ Chí Minh thừa nhận hai đảo thuộc Tàu năm 1958 là hợp lẽ.

    Đang khi đó thì mấy hôm sau ngày 19-01-1974 định mệnh vốn đã khiến 58 binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trở thành anh hùng dân tộc trong một trận hải chiến lịch sử không cân sức, “Tuyên cáo của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa về những hành động gây hấn của Trung Cộng trong khu vực quần đảo Hoàng Sa” đã mạnh mẽ khẳng định: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy. Chừng nào còn một hòn đảo của Việt Nam Cộng hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy chính phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình”.

    Tại sao Hồ Chí Minh, rồi các “học trò xuất sắc” của tên bán nước ấy như Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lương, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng… đã và đang thản nhiên trước cảnh từng mảng thịt tổ quốc bị Đại Hán ngoạm dần?

    Ngày nay, ai cũng biết rằng việc CSVN “bán trời không văn tự”, “lấy của chùa ve gái” năm 1958 ấy là để được Trung Cộng viện trợ súng đạn, gạo tiền và gần nửa triệu quân hầu tiến hành cuộc đánh chiếm VNCH, một cuộc chiến xâm lăng được đảng Cộng sản cưu mang từ trước hiệp định Genève (qua việc cài cắm cán bộ nằm vùng tại miền Nam và chiêu mời cán bộ tập kết ra Bắc để huấn luyện chờ ngày trở về hoạt động), rồi hoạch định tại hội nghị trung ương đảng ngày 13-05-1959, một cuộc chiến mà Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo cộng sản nhất định phải tiến hành cho bằng được, dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”! Đúng như lời nguyên bộ trưởng ngoại giao CS Nguyễn Mạnh Cầm tuyên bố trong một buổi họp báo tại Hà Nội ngày 2-12-1992 với những mỹ từ lừa gạt, những ngụy biện trâng tráo: “Việt Nam đã phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Việt Nam đã phải kêu gọi sự ủng hộ của bè bạn trên toàn thế giới. Đồng thời, tình hữu nghị Trung-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Đối với Việt Nam, Trung Quốc đã là một sự ủng hộ rất vĩ đại và trợ giúp vô giá… Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đòi hỏi nêu trên, tuyên bố của các nhà lãnh đạo của chúng tôi [ủng hộ Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền của họ trên Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa] là cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho sự đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc”.

    Nhưng rồi “sự ủng hộ rất vĩ đại và sự trợ giúp vô giá của kẻ vừa là đồng chí vừa là anh em, vừa là bằng hữu thân thiết vừa là tôn sư tin cẩn” ấy đã sớm làm Việt Cộng méo mặt vì sự thèm khát đất đai và tài nguyên đến độ điên cuồng và ngang ngược của Trung Cộng. Lại đến lúc thế giới CS sụp đổ, chỉ còn sót bốn năm anh em “xã hội chủ nghĩa”. Vậy thì phải liệu ôm nhau mà sống, củng cố đảng cho nhau để kéo dài sự thống trị được ngày nào hay ngày ấy trên dân tộc đồng bào mình.

    Thế là sau hai quần đảo tiền đồn phía đông được dâng trên giấy, Việt Cộng dâng nốt tiền đồn phía Bắc ngàn năm vững chãi là Ải Nam quan, cộng thêm những cao điểm chiến lược quan trọng, qua Hiệp định biên giới Việt-Trung ký kết ngày 30-12-1999, khiến Trung Cộng chẳng còn gặp cản trở lớn lao nào trên con đường tiến xuống Đông Nam Á châu. Năm sau, qua Hiệp định lãnh hải Việt-Trung bí mật ký kết ngày 25-12-2000, bọn mãi quốc cầu vinh, bán nước giữ ghế ấy lại tiến cống thêm khoảng 11.000 km2 trên biển, chính thức để Hoàng Sa và Trường Sa lọt vào tay Trung Cộng, giúp Trung Cộng mặc sức tung hoành trên Đông Hải, dễ dàng khống chế thủy lộ từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương. Rồi sau đó, với những sai lầm liên tiếp khác, đảng CSVN đã đưa đất nước xuống hố sâu của sự khánh kiệt mọi mặt, đành phải thúc thủ trước sự hung hãn của Trung Cộng. Hiện nay, tập đoàn lãnh đạo Việt Cộng vẫn điềm nhiên đi bái yết thiên triều Đại Hán mỗi năm mấy bận, vẫn thản nhiên trơ mắt đứng nhìn đồng bào bị Trung Quốc tàn sát, vẫn vung tay đàn áp con dân đám phản kháng Bắc thù xâm lược, vẫn ngấm ngầm hỗ trợ cho ý đồ hăm dọa các tiểu quốc lân bang, cho giấc mộng thôn tính toàn cầu của Đàn anh Trung Cộng.

    2- Với não trạng “cướp sản” thâm căn cố đế, “coi của người như của mình” và sẵn sàng dùng bạo lực để chiếm đoạt, cộng với một “mặc cảm bù trừ” cho sự yếu thế trước ngoại bang như thế, đảng CSVN đã và đang hung hãn cướp bóc, đàn áp đồng bào mà họ coi là thần dân và thảo dân, trước tiên bằng nguyên tắc bất nhân, vô lý, phi luật: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý” (Hiến pháp 1992, điều 17&18), rồi thông qua các chiến dịch ăn cướp trá hình như cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa, hợp tác hóa, tập thể hóa, hợp doanh hóa, cải tạo xã hội chủ nghĩa… thông qua những văn bản bất công vi hiến như Nghị quyết 23 của Quốc hội ngày 26-11-2003 về quản lý nhà đất, như Luật Đất đai 2003 mà qua 5 lần 7 lượt sửa đổi vẫn là một căn cứ pháp lý để đảng tha hồ tước đoạt bất động sản của các cá nhân, các tôn giáo, các dòng họ.

    Cụ thể trước mắt là chiến dịch cướp đất, xúc dân để chia chác cho nhau giữa đảng viên cán bộ, bán lại cho các ông chủ nước ngoài kể từ năm 1986 đến nay. Gần một triệu hộ nông dân đã bị đẩy ra khỏi ruộng vườn, nhà cửa của họ, dở sống dở chết. Hàng vạn bất động sản của các tôn giáo và dòng tộc vẫn chưa được trả, còn bị chiếm thêm. Hàng ngàn người dân oan và dân chủ phải ngồi tù vì phản đối nạn bóc lột. Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây đang hiện hữu khắp mọi miền đất nước, mà nóng bỏng nhất lúc này là tại giáo sứ Thái Hà, Hà Nội. Bất chấp bằng chứng pháp lý, kiên nhẫn đối thoại, cầu nguyện hiền hòa từ phía nhân dân, đảng CS vẫn nhất định không lắng nghe sự thật và lẽ phải, không từ bỏ thói quen “cướp sản”, thậm chí còn đang chuẩn bị cho một Thiên An Môn tại Việt Nam.

    BAN BIÊN TẬP
    Xã Luận Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận
    Số 59 (15-09-2008)

    www.viettan.org

    Trả lờiXóa
  12. Nặc danh9/1/09 12:53

    VUA HUNG` CO' CONG DUNG NUOC' VA` GIU NUOC' BAC' CHAU' TA CUNG` NHAU BAN' NUOC':

    NGAY` 14-09-1958:
    50 Năm Công Hàm Bán Nước Của Phạm Văn Đồng

    Trung Điền
    Các bài liên hệ:
    Bãi Tục Lãm: Lại Mất Thêm Đất !

    Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Phạm Văn Đồng trong trách vụ Thủ tướng của cái gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (miền Bắc Việt Nam) đã gửi một công hàm cho Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai ủng hộ bản tuyên bố của Trung Cộng về lãnh hải vào lúc đó. Bản tuyên bố của Trung quốc đã được ban thường trực quốc hội nhân dân Trung quốc phê chuẩn vào ngày 4 tháng 9 năm 1958 có đoạn quan trọng như sau: ”Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa (tức là Hoàng sa theo cách gọi của Việt Nam), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (tức là Trường sa theo cách gọi của Việt Nam), và các đảo khác thuộc Trung Quốc”.

    Công Hàm của Phạm Văn Đồng đã viết như sau: ”Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa trên mặt bể”.

    Công hàm của Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ tướng Chu Ân Lai xảy ra 2 năm sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam) ra tuyên bố tái xác nhận chủ quyền trên quần đảo Hoàng sa và Trường sa vào tháng 4 năm 1956. Điều này cho thấy là phía chính quyền miền Nam Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền trên các quần đảo của mình sau Hiệp định Genève năm 1954; trong khi Cộng sản Việt Nam ở miền Bắc thì lại phủ nhận sự kiện này, đứng về phía chủ trương của Trung Quốc.

    Giải thích cho lý do này, trong một cuộc họp báo vào ngày 2 tháng 12 năm 1992, Nguyễn Mạnh Cầm, Bộ trưởng Ngoại giao Cộng sản Việt Nam đã nói rằng lúc đó, theo Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Dương, các lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 về phía Nam bao gồm hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam Việt Nam, kẻ thù của miền Bắc. Đồng thời, Trung quốc đã từng giúp cho chính quyền miền Bắc quá nhiều coi như là vô giá trong các năm sau thập niên 40 nên các nhà lãnh đạo miền Bắc vào lúc đó thấy rằng cần phải lên tiếng ủng hộ tuyên bố của Trung Quốc là cần thiết vì nó trực tiếp phuc vụ cho sự đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc (sic). Nhưng sau đó, ông Nguyễn Mạnh Cầm lại nói rằng việc tuyên bố ủng hộ bản tuyên bố của Trung Quốc vào năm 1958 không dính dáng gì đến nền tảng lịch sử và pháp lý trong chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa.

    Sự lên tiếng của Nguyễn Mạnh Cầm nói trên, xảy ra sau 4 năm hải quân Trung Quốc đánh chiếm Truờng sa vào tháng 3 năm 1988 khiến 74 bộ đội bị tử thương. Trước đó Cộng sản Việt Nam cũng đã hoàn toàn im lặng khi hải quân Trung Quốc đánh chiếm Hoàng sa vào tháng 1 năm 1974 khiến có 34 binh sĩ Việt Nam cộng hòa tử thương. Với những diễn tiến như vậy, chúng ta thấy là những giải thích của ông Nguyễn Mạnh Cầm đã biểu hiện ba điều sau đây:

    Thứ nhất là vì chịu ơn Trung Quốc quá nhiều trong việc giúp đỡ cho Cộng sản Việt Nam xây dựng chính quyền ở miền Bắc từ sau năm 1945 nên họ đã phải trả ơn bằng cách công nhận chủ quyền của Bắc Kinh trên các quần đảo Hoàng sa và Trường sa.

    Thứ hai là lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hoàn toàn không có một ý niệm gì về sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc, tất cả bị chi phối bởi phong trào cộng sản quốc tế với nghĩa vụ bành trướng chủ nghĩa cộng sản ở khắp nơi. Chính vì vậy mà lãnh đạo Hà Nội đã không coi Hoàng sa và Trường sa là của họ vì nằm trong sự kiểm soát của chính quyền thù địch ở miền Nam, nên Trung Quốc có chiếm đóng cũng chỉ là để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản.

    Thứ ba là dù lãnh đạo Hà Nội đã thấy rõ sự sai lầm trong việc để cho Phạm Văn Đồng lên tiếng ủng hộ chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa nhưng đã không có một hành động nào chính thức phủ nhận việc làm sai trái nói trên trong suốt 50 năm vừa qua.

    Trong suốt nhiều thập niên đặt ách cai trị trên đất nước Việt Nam, đảng Cộng sản Việt Nam từ thời Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh hiện nay, phạm rất nhiều sai lầm đối với đất nước và dân tộc Việt Nam. Nhưng trong tất cả những sai lầm này, việc Phạm Văn Đồng dâng hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa cho Bắc Kinh vào năm 1958, và Lê Khả Phiêu – vì dựa vào thế lực của Bắc Kinh để giữ quyền – đã nhượng một số phần đất ở biên giới phía Bắc và lãnh hải trong vùng Vinh Bắc Việt qua hai hiệp ước biên giới (1999) và lãnh hải (2000) là hai vết nhơ trong lịch sử Việt Nam. Nếu là một chính quyền vì dân và cho dân, những người lãnh đạo phải biết tự xử những sai lầm này và phải có những hành động can đảm giành lại chủ quyền của dân tộc một cách tích cực và triệt để chứ không thể biện minh chối tội như Cộng sản Việt Nam hiện nay.

    Ngày mồng 2 tháng 9 vừa qua, hơn 40 người Việt Nam gồm những cựu chiến binh và nhà dân chủ tại Việt Nam đã gửi một bản kiến nghị đến các ông Mạnh, Triết, Dũng và Trọng để đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tuyên bố hủy bỏ công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký vào năm 1958. Kiến nghị này đã có một đoạn như sau: “Chúng ta trong thế hệ này không những tiếp tục bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của cha ông để lại mà còn phải can đảm sửa sai những sai lầm của quá khứ để không tiếp tục trao gánh nặng lại cho thế hệ tương lai. Những sai lầm của ta xuất phát từ niềm tin vào họ khi cùng họ tranh đấu cho một ý thức hệ mà ta tưởng là lý tưởng. Nay chính họ đã phản bội lại tất cả và ngày càng biểu lộ dã tâm xâm lăng đất nước ta, bởi vậy, ta không thể không có thái độ dứt khoát và hành động mạnh mẽ để đáp trả đích đáng dã tâm của đối phương”.

    Tuy nhiên, có một số người khi đề cập đến công hàm Phạm Văn Đồng đã cho rằng văn kiện này không có giá trị pháp lý vì nó không được phê chuẩn ở quốc hội. Do đó, đòi hủy bỏ công hàm là một việc làm không cần thiết. Đây là cách nhìn khá chật hẹp. Dù không phê chuẩn ở quốc hội; nhưng với cương vị là Thủ tướng của một quốc gia, Phạm Văn Đồng không thể làm công việc ngẫu hứng, đánh đổi lãnh hải quốc gia bằng một trò đùa làm hài lòng đồng minh của mình, thì không thể nào tha thứ được. Tình chất nghiêm trọng của bản công hàm Phạm Văn Đồng không nằm ở giá trị pháp lý mà nằm ở sự công khai bán nước của nhóm lãnh đạo Hà Nội cho tập đoàn bá quyền Bắc Kinh. Vì qua công hàm này, Bắc Kinh đã tiến vào Biển Đông một cách hợp lý, đánh chiếm đảo này đảo kia mà thế giới khó lên tiếng phản đối. Do đó phản đối và đòi thu hồi công hàm là một hành động cảnh tỉnh ý thức đấu tranh của người dân.

    Nói tóm lại, bản kiến nghị của nhũng nhà dân chủ - tuy lời lẽ ôn hòa – nhưng đã chính thức vạch trần tính chất bán nước của công hàm do Phạm Văn Đồng ký, đồng thời khởi động một làn sóng tấn công vào tư thế lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian tới. Nhiệm vụ của chúng ta là hãy hỗ trợ và kêu gọi nhiều người Việt Nam khác ở trong nước can đảm ký tên vào bản kiến nghị để công khai bày tỏ sự phản đối chính thức của người Việt Nam trước hành động bán nước của đảng Cộng sản Việt Nam cách nay 50 năm.

    Bản kiến nghị của những nhà dân chủ - tuy lời lẽ ôn hòa – nhưng đã chính thức vạch trần tính chất bán nước của công hàm do Phạm Văn Đồng ký, đồng thời khởi động một làn sóng tấn công vào tư thế lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian tới. Nhiệm vụ của chúng ta là hãy hỗ trợ và kêu gọi nhiều người Việt Nam khác ở trong nước can đảm ký tên vào bản kiến nghị để công khai bày tỏ sự phản đối chính thức của người Việt trước hành động bán nước của đảng Cộng sản Việt Nam cách nay 50 năm.

    Trung Điền

    www.viettan.org

    Trả lờiXóa
  13. Nặc danh9/1/09 12:54

    Nhìn Lại 50 Năm Công Hàm ban' nuoc cua Phạm Văn Đồng
    Lê Vĩnh
    Các bài liên hệ:
    Bãi Tục Lãm: Lại Mất Thêm Đất !

    Ngày 4 tháng 9 nam l958 Chính Phủ Trung Quốc ra tuyên cáo mở rộng lãnh hải của họ từ 3 hải lý thành 12 hải lý, áp dụng cho tất cả các lãnh thổ và hải đảo của Trung Quốc, trong đó họ bao gồm cả Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt nam). Mười ngày sau, ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng cộng sản Việt Nam, gửi công hàm cho thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc, tán thành tuyên cáo nói trên, mà không hề có lời phản bác nào trước việc Trung Quốc ngang nhiên xem Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của họ. Hơn một tuần sau, báo Nhân dân ra ngày 22 tháng 9 đăng toàn văn công hàm vừa kể, để toàn đảng, toàn dân và thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa.

    Bức công hàm tuy chỉ dài 121 chữ, nhưng nói rất rõ là chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, tức Cộng sản Việt nam, chẳng những “ghi nhận”, “tán thành” mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận của Trung Quốc bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Như vậy, ngay trên văn bản này, ông Phạm Văn Đồng đã không nhân danh cá nhân ông, mà thay mặt cho chính phủ cộng sản Việt Nam ký kết. Trên thực tế, trong cương vị Thủ tướng, ông Phạm văn Đồng phải là người ký công hàm. Nhưng người ta đều biết, ông ta không phải là người tự quyết định, mà chỉ thừa hành quyết định chung của 11 người trong Bộ Chính trị hồi đó, mà người đứng đầu là ông Hồ Chí Minh. Sau 32 năm ngồi ghế thủ tướng, khi về vườn, ông Phạm Văn Đồng đã gián tiếp xác nhận điều này qua lời than thở rằng, ông chẳng có quyền hành gì cả.

    Sau này, vào những năm cuối đời, ông Phạm Văn Đồng biện bạch cho việc ông phải ký công hàm bán nước năm 1958 là vì lúc đó đang thời chiến. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm cũng đã đưa ra những lời biện bạch tương tự, và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992. Ông Nguyễn Mạnh cầm cho rằng, việc Cộng Sản Việt Nam ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là cần thiết , vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc. Cả hai lời biện bạch này vừa là những lời nói dối, vừa cho thấy sai lầm to lớn của đảng cộng sản Việt Nam, căn nguyên đưa đến sự bại liệt của nước ta hiện nay. Vào năm 1958 không có cuộc chiến tranh nào cả. Lúc đó miền Nam chỉ có một ít cố vấn Mỹ, không nhiều gì hơn số cố vấn Nga, Tàu ở miền bắc. Nhưng đảng cộng sản Việt Nam đã hoạch định cuộc xâm lăng miền Nam, gọi là cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” tại đại hội đảng lần thứ 3, năm 1959. Chính cuộc chiến mà ông Hồ Chí Minh và nhóm lãnh đạo cộng sản nhất định phải tiến hành cho bằng được, dù có phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”, đã tàn phá đất nước, làm kiệt quệ sinh lực dân tộc. Rồi sau đó, với những sai lầm liên tiếp khác, đảng cộng sản Việt nam đã đưa đất nước xuống hố sâu của sự khánh kiệt mọi mặt; đành phải thúc thủ trước sự hung hăng của Trung Quốc. Ngày nay người ta đều phải thừa nhận là, miền nam trước kia, dù phải chịu đựng chiến tranh, nhưng cũng đã phát triển ngang hàng hoặc hơn các nước trong vùng. Nếu Hà Nội đừng gây ra cuộc chiến (*) (*), thì đến nay chắc chắn miền Nam đã phát triển, hùng cường không thua kém gì Đại Hàn. Trong tình hình đó, liệu Trung Quốc có dám khinh thường Việt Nam như hiện nay không?

    Trở lại bức công hàm bán nước năm 1958; 20 năm sau; bộ ngoại giao của Hà Nội ra tuyên bố cho rằng, công hàm đó chỉ mang tính chất ngoại giao. Cùng năm đó, báo chí đăng tin ông Lý Tiên Niệm, phó thủ tướng Trung Quốc nói rằng: “80 năm sau Trung Quốc mới nói chuyện Hoàng sa, Trường Sa với Việt Nam”. Lời tuyên bố này khiến người ta phải tự hỏi, liệu còn những mật ước dâng nhượng đất đai khác của Hà Nội mà Bắc Kinh chưa tiết lộ không? Nhìn vào sự thậm thụt của cộng sản Việt Nam trong các hiệp định trên bộ năm 1999 và trên biển năm 2000, thì nghi vấn vừa kể không phải là vô căn cứ. Thỉnh thoảng, khi không bằng lòng đàn em ở Hà Nội, Bắc Kinh lại xì ra thêm một vài dữ kiện, mà Hà Nội phải ngậm bổ hòn làm ngọt.

    Thực ra ,công hàm năm 1958 không phải là dữ kiện duy nhất về sự bán nước của cộng sản Việt Nam. Tháng 02 năm 1972, cục Đo Đạc và Bản Đồ thuộc phủ thủ tướng Cộng Sản Việt Nam, khi ấn hành bản đồ thế giới đã xóa tên Hoàng Sa và Trường Sa, thay vào đó là tên Tây Sa và Nam Sa . Trong khi đó, thư viện của trung Hoa Dân Quốc (tức Đài Loan) vẽ bản đồ Việt Nam từ năm 1947, có cả Hoàng sa và Trường Sa. Tháng 5 năm 1976 báo Saigon Giải Phóng, trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực hồi tháng giêng năm 1974, đã viết rằng: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi!”. Sách địa lý xuất bản năm 1974; trong bài "Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa" có viết rằng "chuỗi hải đảo từ Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) tới Hải Nam và Đài Loan là bức tường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc".

    Nhìn lại năm mươi năm, khởi đi từ bức công hàm bán nước năm 1958 , và các hành vi bán nước khác của đảng cộng sản Việt Nam sau đó, cùng với những sai lầm nghiêm trọng, đã làm cho đất nước suy vong, dân tộc mất sức đề kháng ngoại xâm, điều người ta khẳng định được là, không ai khác, chính Đảng Cộng Sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử về tình trạng này. Trong đó, dù muốn dù không, công hàm năm 1958 tự nó đã vô hiệu hoá chủ quyền chính đáng của Việt nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Kéo theo những thiệt hại khác của dân tộc. Do đó, văn bản này cần phải được huỷ bỏ. Đây là điều cộng sản Việt Nam phải thực hiện, hầu phần nào chuộc tội bán nước mà đảng đã làm từ nửa thế kỷ qua.

    Lê Vĩnh

    (*) Vào năm 1970, hai năm sau biến cố tết Mậu Thân, lực lượng cộng sản tại miền nam gần như bị tiêu giệt. Hạ tầng cơ sở của việt cộng cài cắm tại miền Nam hoàn toàn bị bị bật gốc . Chương trình bình định phát triển của Việt Nam Cộng Hoà tiến triển tốt đẹp. Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu lúc đó đã đưa ra lời kêu gọi miền bắc hãy ngưng chiến tranh. Hai miền nam bắc thi đua phát triển đất nước, thi đua đem lại phúc lợi cho người dân . Nhưng cộng sản Việt Nam đã đáp ứng lời kêu gọi này bằng việc tăng cường xâm nhập người và vũ khí vào miền Nam, gia tăng cường độ chiến tranh vào những năm sau đó.

    - Nghe bài này : http://www.radiochantroimoi.com/spip.php?article4326

    Trả lờiXóa
  14. Nặc danh9/1/09 12:55

    TOAN` DAN TOAN` QUAN PHAN DOI' CONG HAM` BAN' NUOC' CUA DANG CSVN:

    Giới Cựu Chiến Binh khởi động kiến nghị hủy bỏ Công Hàm Phạm Văn Đồng 14.09.1958
    Các bài liên hệ:
    Bãi Tục Lãm: Lại Mất Thêm Đất !

    KIẾN NGHỊ HỦY BỎ
    CÔNG HÀM 14 THÁNG 9 NĂM 1958 CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG
    Kính gửi: Ông Nông Đức Mạnh Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam

    Ông Nguyễn Minh Triết Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    Ông Nguyễn Tấn Dũng Thủ Tướng Chính Phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ Tịch Quốc Hội Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    Thưa các ông,

    Từ nhiều năm nay, Chính phủ ta đã khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Nhưng thực tế cho thấy phía chính quyền Trung Quốc đã không những không tôn trọng điều khẳng định của Chính phủ ta mà còn liên tục có những hành động xâm phạm chủ quyền của ta:

    Tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đã xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa.

    Tháng 5 năm 1988, Trung Quốc đã xâm chiếm nhiều đảo ở Trường Sa.

    Tháng 11 năm 2007, Trung Quốc đã cho thiết lập huyện Tam Sa để trực tiếp quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong lúc hai quần đảo này còn trong vòng tranh chấp giữa ta và chính quyền Trung Quốc.

    Tháng 7 năm 2008, Trung Quốc đã cảnh báo và yêu cầu tập đoàn dầu khí Exxon Mobil của Hoa Kỳ rút khỏi hợp đồng khai thác mỏ dầu với chính phủ ta. Trước đó, vào tháng 6 năm 2007, nhà cầm quyền Trung Quốc cũng đã phản đối và yêu cầu ngưng hợp đồng giữa Chính phủ ta với tập đoàn dầu khí BP của Anh nhằm nghiên cứu dầu khí gần khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khiến cho tập đoàn BP đã phải tạm ngưng kế hoạch xúc tiến.

    Mới đây, trong khi chuẩn bị Thế vận hội Bắc Kinh năm 2008, nhà cầm quyền Trung Quốc đã vẽ lại bản đồ Trung Quốc trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Giữa tháng 8 năm 2008, hải quân Trung Quốc trang bị dàn hỏa tiễn tối tân xâm nhập vào khu vực lãnh hải của Việt Nam.

    Những hành động nói trên cho thấy là nhà cầm quyền Trung Quốc coi thường công luận và tiếp tục xâm phạm hải đảo của Việt Nam, trong khi Chính phủ ta chỉ lên tiếng phản đối một cách quá dè dặt. Một trong những văn bản bị Trung Quốc lợi dụng để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa là Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho thủ tướng Chu Ân Lai vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 xác nhận rằng: "Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc".


    (Bản Tuyên bố của Trung Quốc khẳng định hải phận 12 hải lý của họ, trong đó bao gồm chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).


    (Bản dịch tiếng Việt)

    Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải (Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958)

    Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:

    (1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

    (2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

    (3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

    (4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc.

    Sau này, chính phủ ta có giải thích về lý do ra đời của Công hàm vào năm 1958 là hoàn toàn mang tính ngoại giao không ảnh hưởng gì đến chủ quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, Trung Quốc không đếm xỉa gì đến giải thích này.

    Nhiều thế hệ Việt Nam đã anh dũng chiến đấu để bảo vệ giang sơn tổ quốc. Chúng ta trong thế hệ này không những tiếp tục bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của cha ông để lại mà còn phải can đảm sửa sai những lầm lẫn của quá khứ để không tiếp tục trao gánh nặng lại cho thế hệ tương lai. Những sai lầm của ta xuất phát từ niềm tin trong sáng vào họ khi cùng họ đấu tranh cho một ý thức hệ mà ta tưởng là lý tưởng. Nay chính họ đã phản bội lại tất cả và ngày càng biểu lộ dã tâm xâm lăng đất nước ta, bởi vậy, ta không thể không có thái độ dứt khóat và hành động mạnh mẽ để đáp trả đích đáng dã tâm của đối phương.

    Ngày 14 tháng 9 năm nay là vừa tròn nửa thế kỷ đã trôi qua đối với bản công hàm do cá nhân thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký mà không thông qua Quốc hội, không trưng cầu ý kiến toàn dân. Bởi vậy, nhân dịp này chúng tôi khẩn thiết đề nghị Nhà nước ta chính thức tuyên bố hủy bỏ Công hàm mà cá nhân thủ tường Phạm văn Đồng đã ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 gửi cá nhân thủ tướng Chu Ân Lai.

    Chúng tôi hoàn toàn tin rằng đây là sở nguyện của toàn dân Việt Nam và làm được như vậy mới có thể chuộc lỗi cùng Tổ quốc và Nhân dân, từ đó sẽ cứu vãn được lòng tin.

    Hà Nội ngày 2 tháng 9 năm 2008

    Những người ký tên kiến nghị :

    (Đến ngày 4/9/2008)

    Cựu chiến binh ( theo thứ tự tên gọi)

    1. Phan Anh – thương binh, giáo viên trường PTTH Quang Trung, tp Hà Đông

    2. Phạm Quế Dương – đại tá QĐND VN, 37 Lý Nam Đế, Hà Nội

    3. Lê Điệp – CCB, 17 Hàng Quạt, Hà Nội

    4. Lê hữu Điệp – CCB, 40, phường Phúc Tân, Hoàn Kiếm, Ha Nội

    5. Lý Anh Kim – CCB, 87, Phường Phúc Xá, Ba Đình, Ha Nội

    6. Trần Anh Kim – Trung tá QĐNDVN, biên tập viên tập san Tổ Quốc

    7. Nguyễn Trọng Lâm – CCB, 46 Trần Hưng Đạo, Hà Nội

    8. Nguyễn văn Miến – đại tá QĐNDVN, 30 đường Nguyễn Cao, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

    9. Nguyễn Kim Nhàn – CCB, số nhà 1413, khu 34, thành phố Bắc Giang

    10. Nguyễn Thanh Nhàn- thương binh chống Mỹ, gv trường PTTH Quang Trung, tp Hà Đông

    11. Phạm văn Phiếu – cụu quyết tử quân Trung đoàn Thủ đô, 8/28 Hương viên, Hai Bà Trưng, Hà Nội

    12. Trịnh Khả Phức – Cựu chiến binh chống Pháp – số 6, nhà P9, khu lắp ghép Trương Định, Hanoi

    13. Vũ Cao Quận – CCB, Hải Phòng, biên tập viên tập san Tổ Quốc

    14. Lê Anh Sơn – CCB, 17 Nguyễn Du, Hà Nội

    15. Đỗ Việt Sơn – lão thành cách mạng, 4/21. Nguyễn Cao, Hà Nội

    16. Trần Đức Thạch – CCB, Hội viên Hội Văn Nghệ Nghệ An

    17. Nguyễn Thế - CCB, Thanh Xuân, Hà Nội

    18. Đỗ văn Thỉnh - CCB, Văn Phú, Phú La, Hà Đông

    19. Chu văn Thưởng – CCB, 18 Ngõ Quỳnh, Bạch Mai, Hà Nội

    20. Cao Bá Trữ - thiếu tá QĐNDVN, Đống Đa, Hà Nội

    Nhân Dân Việt Nam (theo thứ tự tên gọi)

    1. Tiêu Dao Bảo Cự - nhà văn, Thành phố Đà Lạt

    2. Kim Văn Duy - sinh viên ĐH Kiến Trúc, tp HCM

    3. Ninh Thị Định - 3/20/215 Lê Lai, Ngô Quyền, Hải Phòng.

    4. Nguyễn Thanh Giang – tiến sỹ Địa Vật lý, số 6, tập thể Địa Vật lý Máu bay, Hà Nội

    5. Vi Đức Hồi - Cựu hiệu trưởng Trường Đảng Hữu Lũng, Lạng Sơn khu An Thịnh, Hữu Lũng, Lạng Sơn.

    6. Vũ Hùng – cựu giáo viên vật lý trường PTCS Bích Hòa, Hà Tây

    7. Vũ Mạnh Hùng - Cán bộ quản lý khu nội trú Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thương mại, Hà Nội

    8. Trần Lâm – luật sư, Thành phố Hải Phòng

    9. Mai Thái Lĩnh – cựu Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Đà Lạt, Lâm Đồng

    10. Nguyễn Thượng Long – nhà giáo, Văn La, Văn Khê, Hà Đông

    11. Nguyễn thị Lợi - ( thân mẫu cô Phạm Thanh Nghiên)

    12. Nguyễn Tiến Nam, tổ 24, phường Yến Thịnh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

    13. Võ văn Nghệ - 277A, đường Nguyễn Trãi, phường Tây Sơn, tp Thanh Hóa

    14. Nguyễn Xuân Nghĩa – nhà văn, số nhà 828, đường Trường Chinh, Kiến An, Hải Phòng

    15. Phạm Thanh Nghiên, số nhà 17, Phương Lưu 2, phường Đông Hải, quận Hải An, HP

    16. Hà Sỹ Phu – tiến sỹ sinh vật học, 4E Bùi thị Xuân, thành phố Đà Lạt

    17. Lê Minh Phúc – Cựu Tổng giám đốc Liên hiệp Địa Vật lý Máy bay Việt Nam

    18. Phạm Thị Phượng - Cầu Tre, Ngô Quyền, Hải Phòng.

    19. Bùi Minh Quốc – nhà văn, 3 Nguyễn Thượng Hiền, Đà Lạt

    20. Ngô Quỳnh - Hiệp Hòa, Bắc Giang

    21. Nguyễn văn Tính (tức Hoàng Hải Minh) Quán Chữ, Hải Phòng, mobile 0984 414479

    22. Lưu thị Thu – 282, Lê Lai, Ngô Quyền, Hải Phòng

    23. Trần Khải Thanh Thủy – nhà văn, biên tập viên tập san Tổ Quốc

    24. Vũ như Ý - nguyên chuyên viên cao cấp Bộ Giao thông vận tải, phường Vĩnh Tuy, Hà Nội

    25. Phạm Thanh Yến, lô A1, Thái Phiên, Cầu Tre, Ngô Quyền, Hải Phòng

    Trả lờiXóa
  15. Nặc danh9/1/09 12:56

    Khôn Nhà Dại Chợ
    Ngô Văn

    Chẳng có một ông Thủ tướng Nhật nào muốn tạo ra sự căng thẳng với Nga. Và dù luôn tìm cách phát huy tình hữu nghị giữa hai nước; nhưng đối với vấn đề bốn hòn đảo ở phía bắc của Nhật bị Nga xâm chiếm; thì Tokyo luôn luôn lên tiếng đòi Moscow phải trả lại; cũng như tố cáo sự xâm chiếm này mỗi khi có cơ hội. Bên cạnh đó, người dân Nhật cũng thường xuyên xuống đường bày tỏ ý chí bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ. Họ tự đặt ra một ngày kỷ niệm, gọi là “Bắc Phương Lãnh Thổ”, để nhắc nhở mọi người đừng quên những hòn đảo bị Nga xâm chiếm là lãnh thổ bất khả tương nhượng của Nhật. Không những thế, người Nhật còn xuống đường biểu tình lên án chính phủ , mà họ cho là không đủ cứng rắn trong việc đòi lại bốn hòn đảo. Mỗi khi có các giới chức cao cấp của Nga đến Nhật, là có những cuộc biểu tình đòi Nga trả lại các đảo. Thế nhưng, chẳng ai trong chính phủ Nhật dám ra lệnh đàn áp những cuộc biểu tình đó. Nga cũng chẳng dám răn đe gì nước Nhật.

    Ở đây cần phải nhấn mạnh là, Nga đã lợi dụng sự thất trận của Nhật trong thế chiến thứ hai, để chiếm đóng các hòn đảo trên của Nhật ngay trước khi thế chiến chấm dứt; Chứ nếu một chính phủ Nhật nào đó hiến tặng cho Nga bằng một văn kiện chính thức, như kiểu công hàm Phạm văn Đồng năm 1958 dâng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cho Trung Quốc, thì chắc chắn người dân Nhật đã hỏi tội kẻ bán nước từ lâu rồi. Từ sự so sánh vừa kể, hãy nhìn lại Việt Nam.

    Cũng như người Nhật, người Việt Nam đã đứng lên phản đối Trung Quốc ngang nhiên xâm chiếm hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Đây là sự biểu tỏ ý chí bảo toàn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Vấn đề được đặt ra là, tại sao những người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam lại dùng đủ mọi biện pháp để ngăn chặn, đàn áp sự bàytỏ lòng yêu nước đó? Mà gần đây nhất là những cuộc bắt bớ, cô lập, trù dập nhiều nhà dân chủ trong khoảng thời gian đánh dấu 50 năm công hàm bán nước của ông Phạm Văn Đồng. Trong đó, hai trường hợp gây nhiểu chú ý nhất là vu vạ cho blogger Điếu Cày tội trốn thuế để bỏ tù ông, mà thực ra ai cũng biết ông bị giam cầm chỉ vì đã hiên ngang đi hàng đầu trong việc chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc. Trường hợp thứ hai là cô Phạm Thanh Nghiên bị bắt khẩn cấp, khi cô toạ kháng với biểu ngữ “Hoàng Sa trường Sa là của Việt Nam; phản đối công hàm bán nước ngày 14 tháng 9 năm 1958”. Điều nghịch lý là, ngay cả nhà cầm quyền Hà Nội giờ đây cũng đã nhiều lần nói Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Như vậy, đương nhiên họ cũng nhận ra tính chất bán nước của bản công hàm năm 1958 . Thế nhưng họ vẫn trấn áp những ai dám nói lên thực tế đó.

    Đối với dân thì hung hãn như vậy, nhưng với kẻ xâm lược Bắc Kinh thì Hà Nội lại chẳng dám hó hé gì. Ngay cả khi có cơ hội làm Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, tức ở vào vị trí thuận tiện nhất để giải quyết vấn đề Trung Quốc xâm lấn và những tranh chấp khác một cách ôn hoà; Hà Nội cũng chẳng dám đưa vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa vào chương trình nghị sự. Để cho dù bị ngăn chặn hay không giải quyết được, nhưng ít ra cũng tìm thêm đồng minh trước sự hung hăng của Trung Quốc, vốn đang là mối lo chung của nhiều quốc gia.

    Đầu năm 1999, Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, Lê Khả Phiêu sang Bắc Kinh diện kiến ông Giang Trạch Dân, được họ Giang đưa cho một câu gồm 16 chữ vàng: “ Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai “, để gọi là phương châm quan hệ giữa hai nước. Lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam, vì phải dựa dẫm vào Trung Quốc để tồn tại, nên đã một mực tuân thủ khẩu hiệu 16 chữ vàng đó. Dù có bị chèn ép nhục nhã. Còn phía Trung Quốc thì sao? Họ đã càng ngày càng lấn tới. Không chỉ ngang ngược lấn chiếm các hải đảo của Việt Nam, mà còn dần dần chiếm đoạt các tài nguyên kinh tế trong vùng đặc quyền hải phận kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Vu cáo ngư dân Việt Nam là hải tặc để bắt giữ đòi tiền chuộc, thậm chí còn bắn giết ngư dân Việt Nam ngay trên lãnh hải cuả Việt Nam.

    Nhiệm vụ quan trọng nhất của một chính quyền là bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ người dân; và được người dân đứng sau lưng hỗ trợ. Những gì Hà Nội đã và đang làm cho thấy, Hà Nội không những đã không làm như vậy, mà còn làm ngược lại. Cách hành xử đó nói lên điều gì, nếu không phải là khôn nhà dại chợ ? Để lấp liếm sự ươn hèn, bán nước của mình, Hà Nội đưa ra luận điệu ru ngủ, là sẽ giải quyết bằng thương lượng ôn hoà khi củng cố được sức mạnh dân tộc. Đây là luận điệu đi ngược lại truyền thống lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, và sẽ được bàn đến trong một dịp khác. Hơn thế nữa, sức mạnh dân tộc sẽ không bao giờ có, khi mà tinh thần yêu nước của nhân dân bị trấn áp. Thực ra, đây chỉ là luận điệu viễn vông, vì với sự theo đuôi đàn anh Trung Quốc của đảng Cộng Sản, Việt Nam sẽ chẳng bao giờ có sức mạnh để thương thảo bình đẳng với Trung Quốc, khi mà nước này có khả năng tranh hùng xưng bá với siêu cường Hoa Kỳ.

    Ngô Văn

    Trả lờiXóa
  16. Nặc danh9/1/09 12:57

    Từ Hoàng Sa Trường Sa Đến Thái Hà Và Tòa Khâm Sứ:

    Văn Chu
    Các bài liên hệ:
    Bãi Tục Lãm: Lại Mất Thêm Đất !

    Trong những ngày vừa qua, Cộng Sản Việt Nam lại vừa mở thêm một cuộc đàn áp mới đối với những thành phần quần chúng nhân dân đang đặt vấn đề về những khuất tất của chế độ.

    Đợt đàn áp lần này khởi đi từ phiên tòa đầy phi pháp và dối trá xử blogger Điếu Cầy, cùng với một loạt những bắt bớ các nhà đấu tranh cho dân chủ, và cho sự toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải, nhân đánh dấu 50 năm bản công hàm ô nhục ngày 14 tháng 8 năm 1958 của ông Phạm văn Đồng, chính thức công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông bao trùm quần đảo Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam. Cũng như đợt đàn áp cuối năm ngoái và tháng tư vừa rồi, khi người dân yêu nước lên kế hoạch biểu tình phản đối Trung Quốc thiết lập đơn vị hành chánh Tam Sa bao gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa, và sau đó, in hai quần đảo này trong bản đồ Trung Quốc trên website lộ trình rước đuốc Thế Vận Hội; lần đàn áp này, Hà Nội cũng chứng tỏ đã rất hữu hiệu trong việc ngăn chặn phá vỡ mọi kế hoạch biểu tình của sinh viên yêu nước. Vào đúng ngày 14 tháng 9 vừa qua, tất cả những người đã từng công khai lên tiếng bày tỏ lòng yêu nước, bất bình với thái độ ngang ngược bá quyền của Trung Quốc, đều bị công an bắt đi, hoặc mời lên công an làm việc, hoặc ngăn chặn không cho ra khỏi nhà. Trước các cơ sở ngoại giao của Trung Quốc ở Hà Nội và Sài Gòn đều có công an dày đặc để ngăn ngừa biểu tình..

    Trong lúc vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam được người dân yêu nước hâm nóng, bất kể sự khống chế của chế độ, thì cùng thời gian đó, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam cũng đột nhiên trở nên cứng rắn hơn đối với giáo dân Thiên Chúa Giáo tại Hà Nội đang tranh đấu đòi lại những đất đai của giáo hội, đã bị nhà nước chiếm đoạt từ bao năm nay. Hà Nội đã lên án gắt gao các linh mục và giáo dân Thái Hà đang tập trung cầu nguyện đòi đất, là vi phạm pháp luật, và bắt bớ một số giáo dân bị nghi là nồng cốt.. Công an mặc thường phục và xã hội đen đã dùng bạo lực đánh đập, xịt hơi cay vào đoàn người bất bạo động đang cầu nguyện. Người dân xung quanh giáo xứ cho biết, nhà nước thưởng 30 ngàn đồng cho những ai đến quấy phá, xỉa xói giáo dân đang cầu nguyện. Bộ máy tuyên truyền của nhà nước cũng đồng loạt mở chiến dịch vừa bóp méo sự thực, vừa bôi nhọ đức tổng giám mục Ngô Quang Kiệt, để gây ấn tượng: vị chủ chăn công giáo tại Hà Nội không muốn nhận mình là người Việt Nam.

    Một hành vi xảo trá khá thâm độc khác của nhà cầm quyền là, trong khi hai bên nhà nước và giáo xứ còn đang chưa ngã ngũ giải quyết vụ tranh tụng về sở hữu đất đai của giáo xứ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ, thì nhà nước đã ngang nhiên mang xe ủi đất đến san bằng các miếng đất này để thi công xây dựng thư viện và công viên. Ý đồ thâm độc của chế độ là muốn tạo nên hình ảnh giáo hội công giáo chỉ đặt quyền lợi ích kỷ riêng trên hết, và ngăn cản nhà nước thi công những chương trình phục vụ dân sinh.

    Nhưng, câu hỏi được đặt ra ở đây là: nếu nhà nước thực tâm phục vụ dân chúng và thiếu nhi, thì tại sao không thi công xây thư viện và công viên ngay trên ba miếng đất mà nhà nước đã đề nghị đền bù cho tòa Khâm Sứ trước đây, cho đỡ rắc rối? Phải chăng Hà Nội đang dùng thiếu nhi và nhân dân làm chiêu bài để che dấu ý đồ cướp đất của mình, như đã từng dùng chiêu bài giải phóng dân tộc để cướp và củng cố chính quyền?

    Đợt đàn áp lần này này của nhà cầm quyền Hà Nội có lẽ đang bộc lộ những điều sau:

    1. Lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã cảm thấy thực sự bị đe dọa trước sự vươn dậy của quần chúng nhân dân. Gia tăng bạo lực chỉ là dấu hiệu thể hiện tâm trạng sợ hãi và mất tự tin.

    2. Họ đang muốn chuyển sự chú ý của dư luận quần chúng trong vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa sang vấn đề đất nhà thờ. Họ muốn thu nhỏ vấn đề giữ, và đòi lại đất của tổ tiên dân tộc, xuống vấn đề giữ và đòi lại đất của giáo dân. Vì họ biết rõ sư hèn yếu trước Trung Quốc của họ là điểm yếu mà nhân dân Việt Nam không chấp nhận. Do đó phải thổi lên vụ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ, trong khi bộ máy tuyên truyền ếm nhẹm những bức xúc về Hoàng Sa Trường Sa của nhân dân.

    3. Bộ máy tuyên truyền này hoàn toàn lờ đi những đòi hỏi công lý và hoà bình chung của giáo dân, mà chỉ cố tạo hình ảnh người công giáo là thiểu số ích kỷ, chỉ vì quyền lợi riêng mà chống lại nhà nước, nhằm tách rời cộng đồng giáo dân ra khỏi dân tộc. Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đang khích động hình ảnh chính dân chúng bất mãn xỉa xói, tấn công giáo dân, chứ không phải công an, cùng đám tay sai bất hảo của công an, được gọi là "quần chúng tự phát”, làm việc này. Hệ quả của việc này sẽ là sự chia rẽ dân tộc giữa bên lương và bên giáo.

    Tóm lại, tương tự như thực dân Pháp trước kia đã chia nước ta ra làm ba kỳ để dễ cai trị, Hà Nội nay đang muốn tạo nên sự chia rẽ dân tộc , để vừa dễ cai trị, vừa dễ củng cố chế độ và dễ bán nước cho Trung Quốc, hầu đổi lấy sự bảo kê của đàn anh này. Đây chính là bản chất của Cộng Sản, bản chất luôn đặt quyền lợi của Đảng lên trên quyền lợi của dân tộc!

    Văn Chu

    Trả lờiXóa
  17. Nặc danh9/1/09 12:58

    Từ Phạm Văn Đồng Tới Nguyễn Tấn Dũng cung` nhau ban' nuoc':

    Ngô Nhân Dụng
    Các bài liên hệ:
    Bao lâu CSVN còn nắm chính quyền: Đất nước còn nguy cơ bị mất vào tay Trung Cộng

    Ông Nguyễn Tấn Dũng có thể sửa chữa một sai lầm mà ông Phạm Văn Ðồng đã phạm trước đây 50 năm. Nếu ông Dũng can đảm.

    Ngày mai, 14 Tháng Chín 2008 đánh dấu 50 năm lá thư của ông Phạm Văn Ðồng gửi ông Chu Ân Lai, tổng lý quốc vụ viện (tức là thủ tướng) Trung Quốc. Trong lá thư này, ông thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tức là miền Bắc Việt Nam lúc đó, đã tỏ ý “tán thành” lập trường Trung Quốc về hải phận của họ.

    Chính phủ Bắc Kinh bây giờ vẫn vin vào lá thư đó để chứng minh chính quyền cộng sản Việt Nam đã công nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc từ ngày 14 Tháng Chín oan nghiệt này.

    Bây giờ, muốn phủ nhận ý kiến đó, ông Nguyễn Tấn Dũng hãy viết một công hàm khác, gửi Thủ Tướng Ôn Gia Bảo, giải thích rằng bức thư của ông Phạm Văn Ðồng không hàm chứa ý công nhận chủ quyền Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa. Hãy viết một lá thư ngắn gọn, rõ ràng, quả quyết, không ai hiểu lầm được, khác với lối văn mập mờ nửa trắng nửa đen của ông Phạm Văn Ðồng trước đây.

    Bức thư Phạm Văn Ðồng chỉ có hai đoạn chính, ngoài hai câu thưa gửi và chào hỏi thường lệ ở đầu và cuối thư. Trong đoạn thứ nhất, ông Ðồng viết chính phủ của ông “tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận Trung Quốc.” Ðây là những lời lẽ rất tổng quát, cũng như câu mở đầu đoạn sau viết “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy ...” Ðây là những câu văn oan nghiệt ghi tên Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Ðồng vào sổ đen của lịch sử Việt Nam chép tên những người bán nước trong lúc đang nắm giữ chính quyền. Vì “bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa” xác định các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của nước họ. Tán thành bản tuyên bố đó là công nhận Trường Sa và Hoàng Sa thuộc Trung Quốc!


    Hồ Chí Minh. Nêu tên những người cầm đầu như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Ðồng cũng chỉ là những tên tuổi tiêu biểu thôi, còn tất cả Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm chung. Bây giờ đảng Cộng Sản có trách nhiệm phải nói và làm ngược lại để rửa cái tiếng xấu muôn đời đó. Và họ có thể biện hộ, giải thích lá thư Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai theo cách khác.

    Vì trong đoạn chính thứ nhì của bức thư, ông Phạm Văn Ðồng lại viết tiếp một câu cụ thể hơn, nói rõ hơn: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.”

    Bây giờ ông Nguyễn Tấn Dũng có thể vin vào đoạn thứ nhì này để giải thích lại bức thư của Phạm Văn Ðồng. Có thể giải thích rằng đoạn trước chỉ là một lời tuyên bố tổng quát tỏ tình hữu hảo, còn đoạn sau mới là nội dung thật của bức công hàm. Nội dung chính yếu khi nói “tán thành” và “tôn trọng” lập trường của Trung Quốc là sẽ “triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.” Và chỉ có thế thôi, không có gì khác. Trong bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 về hải phận của Trung Quốc có rất nhiều chi tiết, vấn đề hải phận 12 hải lý chỉ là một. Tại sao bức thư lại nhấn mạnh tới việc “triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc?” Chỉ vì đó là điều duy nhất trong cả bản tuyên bố mà phía Hà Nội muốn nói trong văn thư này.


    Phạm Văn Đồng. Hãy phân tích cả câu văn liên tục, nói rằng chính quyền Hà Nội “tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.” Hãy giải thích hai động từ “tôn trọng” và “chỉ thị” nối nhau bằng chữ “và” để giải thích rằng mệnh đề sau chú thích ý trong mệnh đề trước. Mệnh đề trước nói đến ý “tôn trọng quyết định ấy” và mệnh đề sau cho biết sẽ “chỉ thị” một hành động chứng tỏ sự “tôn trọng.” Tức là phía Hà Nội chỉ tôn trọng một điều trong quyết định của bản tuyên bố ngày 4 Tháng Chín mà thôi, đó là hải phận 12 hải lý. Tôn trọng hải phận 12 lý là ý chính và ý duy nhất của cả bức thư. Còn những vấn đề như chủ quyền trên các quần đảo ở Biển Ðông không được nêu lên trong lá thư, tức là chưa “tán thành” cũng chưa muốn “tôn trọng.” Nếu Phạm Văn Ðồng định nói là Hà Nội “tán thành” và “tôn trọng” tất cả các chi tiết trong “bản tuyên bố” của Trung Quốc thì tại sao ông ta lại phải nêu lên riêng “điều khoản 12 hải lý” này làm gì?

    Ðó là những lý lẽ để đảng Cộng Sản Việt Nam có thể nói ngược lại, phủ nhận những lời giải thích lợi cho Trung Quốc về lá thư của Phạm Văn Ðồng. Lá thư trên có thể được viết ra với dụng ý “mập mờ;” đó là “nghề” của các cán bộ cộng sản. Lối nói mập mờ đó đã đánh lừa được rất nhiều người, thí dụ như khi gọi mọi người đi trình diện để “học tập” với lời nhắn hãy “mang theo lương thực đủ ăn một tháng!” Cả nước Việt Nam từ Bắc chí Nam đã từng bị đánh lừa kiểu đó hơn nửa thế kỷ nay, và thói ăn nói lừa đảo này bây giờ vẫn còn được sử dụng. Nhưng kẻ lừa đảo thế nào cũng có ngày gặp những tay lừa đảo giỏi hơn, cho nên Bắc Kinh đã lấy “gậy ông đập lưng ông” bằng lá thư của Phạm Văn Ðồng.

    Tất nhiên, phân tích chữ nghĩa chẻ sợi tóc làm tư như trên sẽ không buộc được chính phủ Bắc Kinh thay đổi quan điểm của họ. Vì Bắc Kinh sẽ đưa ra những bằng cớ khác, cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhắm mắt công nhận Trường Sa và Hoàng Sa trong những hành động khác nữa.

    Chính quyền Bắc Kinh đã nêu lên những bằng cớ cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam “tán thành” họ một cách nhiệt liệt hơn một lá thư của Phạm Văn Ðồng. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc cho biết ngày 6 tháng 9 năm 1958 báo Nhân Dân ở Hà Nội đã đăng đầy đủ chi tiết cả bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 của họ. Ðiều đó chứng tỏ chính quyền Hà Nội không những gửi thư tán thành mà còn nhiệt liệt tán thành, cho nên mới bắt dân chúng đọc báo Nhân Dân học tập để hiểu rõ quan điểm của Trung Quốc! Chưa hết, Bắc Kinh còn trưng ra một cuốn sách giáo khoa môn địa lý in ở Hà Nội năm 1974, trong đó ghi các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tên người Trung Hoa gọi Trường Sa và Hoàng Sa) cùng với đảo Hải Nam nằm trong vòng đai phòng thủ của Trung Quốc.

    Trước những chứng cớ đó, thật khó cãi tội bán nước. Nhưng trong việc ngoại giao, nói gì được thì vẫn cứ phải nói. Nước lớn nêu lý của nước lớn, nước nhỏ cũng phải hô lên những lý lẽ của nước nhỏ, cho bàn dân thiên hạ nghe! Cứ việc giải thích ngược lại bức thư của Phạm Văn Ðồng, Trung Quốc họ có đồng ý hay không mặc kệ họ, nhưng sẽ có nhiều nước, nhiều người khác họ lắng nghe. Ai ghét mình thì không đồng ý, ai thương thì sẽ đồng ý. Cuối cùng, thế ngoại giao của một nước dựa trên những sức mạnh khác chứ không chỉ dựa trên lời nói.

    Cho nên nói được gì cứ nói. Bây giờ, ông Nguyễn Tấn Dũng, lấy danh nghĩa một người thừa kế ông Phạm Văn Ðồng, hãy viết một lá thư giải thích lại bức thư ngày 14 tháng 9 trước đây 50 năm. Nói quả quyết là ông Ðồng chỉ cho biết ý kiến tán thành hải phận 12 lý mà thôi. Tất cả các vấn đề khác không nói tới, tức là cứ để đó, sẽ còn bàn cãi!

    Và bây giờ đúng là lúc cần bàn cãi nhiều chuyện, sau khi Bắc Kinh đe dọa công ty dầu khí ExxonMobil của Mỹ không được thăm dò ở thềm lục địa Việt Nam mà Trung Quốc coi là thuộc hải phận của họ. Hà Nội đã dám phản đối lời đe dọa của Trung Quốc. Công ty ExxonMobil cũng nói cứng, khác hẳn với công ty BP năm ngoái mới nghe dọa đã rút lui. Ông thứ trưởng ngoại giao Mỹ Negroponte đến Việt Nam cũng nói nửa kín nửa hở rằng các công ty Mỹ có quyền quyết định thăm dò dầu ở đâu cũng được miễn là có nước chủ nhà đồng ý.

    Lâu nay Trung Quốc vẫn bác bỏ những hội nghị các quốc gia tranh chấp vùng Biển Ðông. Họ chỉ muốn nói chuyện tay đôi với từng nước một, vì họ biết rằng mối tranh chấp lớn nhất là với Việt Nam. họ cũng biết rằng cộng sản Việt Nam sợ họ từ lâu rồi. Bây giờ là lúc nên chứng tỏ Việt Nam không sợ! Ðảng cộng sản Việt Nam phải chứng tỏ nước mình không sợ thật chứ không phải chỉ phản đối chiếu lệ, yếu ớt, việc Bắc Kinh đe dọa các công ty dầu quốc tế. Cho nên ông Nguyễn Tấn Dũng nên nhân ngày 14 tháng 9 mà viết một lá thư phủ nhận những ý kiến của ông Phạm Văn Ðồng mà Bắc Kinh đang giải thích lợi cho họ. Có như vậy mới giúp cho các công ty dầu khí khác không lo lắng quá, để họ dám tới thăm dò và khai thác những vùng biển mà Trung Quốc còn coi là đang tranh chấp.

    Những tranh chấp này sẽ còn diễn ra nhiều lần nữa, không những giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn giữa Trung Quốc với 4, 5 nước khác trong vùng, kể cả Ðài Loan. Ðài Loan họ còn không sợ, việc gì mình phải sợ?

    Như vậy thì người Việt Nam càng nên nói lời cứng rắn, để chứng tỏ cho cả thế giới thấy mình không khiếp nhược. Ðây là lúc nên đọc lại Bình Ngô Ðại Cáo của Nguyễn Trãi: “Duy ngã Ðại Việt chi quốc - Thực vi văn hiến chi bang! Sơn xuyên chi phong vực ký thù - Nam Bắc chi phong tục diệc dị” (Duy nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu - Sơn hà cương vực đã chia - phong tục Bắc Nam cũng khác).

    Trong bang giao quốc tế, mỗi quốc gia không có bạn, cũng không có kẻ thù, mà chỉ có quyền lợi phải bảo vệ. Nước càng nhỏ thì càng phải dựa vào các thế lực quốc tế mà tự bảo vệ mình, không thể kết bạn hay gây thù chuốc oán với nước nào cả. Những nước nhỏ như Ukraine, Lithuiana nằm bên cạnh con gấu Nga mà cũng không sợ, vì biết trong thế giới ngày nay không dễ gì một nước lớn có thể lấy thịt đè người. Nga không dám đánh Estonia hoặc Ba Lan, thì Trung Quốc cũng không dám tấn công Việc Nam, như họ đang để cho người Trung Hoa trình bày, trên mạng lưới Sina, “kế hoạch tấn công chiếm đóng” Việt Nam trong 31 ngày. Người phát ngôn chính phủ Trung Quốc nói rằng đó chỉ là ý tưởng đùa chơi của mấy cá nhân, không phản ảnh ý kiến của nhà nước. Họ làm như thể đảng Cộng Sản ở bên Trung Quốc biết tôn trọng quyền tự do ngôn luận của dân lắm! Nếu vậy thì tại sao lại Cộng Sản Việt Nam nhịn nhục? Tại sao các mạng lưới chống việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa lại bị chính quyền Hà Nội cấm và phá rối? Tại sao lại bỏ tù nhà báo Ðiếu Cầy Hoàng Hải? Chịu nhục với nước “đồng chí anh em” nhưng lại vẫn hống hách đe dọa người dân nước mình, để làm gì?

    Nước ta và Trung Quốc đã sống bên cạnh nhau mấy ngàn năm rồi, bang giao có lúc nóng lúc lạnh, ai cũng biết. Việt Nam không dại gì khiêu khích Trung Quốc. Sau khi đánh đuổi quân Nguyên hoặc quân Minh, các vị vua như Trần Nhân Tôn, Lê Thái Tổ vẫn “dâng biểu tạ tội,” cho dân chúng được yên thân. Nhưng các vị minh quân đó không bao giờ “tán thành” để một tấc đất nào của tổ tiên rơi vào tay giặc.

    Trong thế giới bây giờ không phải chỉ có Trung Quốc là nước lớn. Chính vì mình là nước nhỏ cho nên phải tỏ ra tự trọng, cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia. Có như thế các nước khác mới kính nể, để khi có tranh chấp thì nhiều nước sẽ đứng ra bênh vực mình. (Người Việt; Friday, September 12, 2008)

    Ngô Nhân Dụng

    Trả lờiXóa
  18. Nặc danh9/1/09 13:00

    Nguyễn Tấn Dũng theo gót Phạm Văn Ðồng? cung` nhau ban' nuoc':

    Ngô Nhân Dụng
    Các bài liên hệ:
    Thanh Niên Việt Nam tiếp tục tìm mọi cách báo động hiểm họa mất dần lãnh thổ
    Bao lâu CSVN còn nắm chính quyền: Đất nước còn nguy cơ bị mất vào tay Trung Cộng
    Khi Con Giun CSVN mọc chút xương sống dưới đế giầy Bắc Kinh

    Trong mấy ngày đầu năm 2009, các mạng lưới ở Việt Nam trao đổi tin tức và bàn tán rất nhiều về vấn đề biên giới Hoa-Việt. Người Việt ở nước ngoài cũng thắc mắc không kém. Một câu hỏi chưa ai giải đáp được là: “Tại sao Bắc Kinh thúc đẩy Hà Nội phải hoàn tất việc ‘cắm mốc biên giới’ trước ngày cuối cùng năm 2008?” Một câu hỏi khó trả lời hơn là: “Tại sao chính quyền Hà Nội cũng muốn làm cho xong việc cắm mốc trước khi năm 2009 bắt đầu?”

    Trên thế giới có hàng trăm quốc gia đang tranh chấp về biên giới với nhau. Nhiều cuộc tranh chấp kéo dài hàng mấy trăm năm người ta vẫn đành chịu, không giải quyết được. Vì ở các nước đó không chính quyền nào muốn kết thúc cuộc tranh cãi với nước kia, sợ mang tiếng với con cháu sau này là mình cam tâm bán nước. Thí dụ giữa hai nước Canada và Mỹ, với 5,000 cây số biên thùy, hiện có 4 vùng tranh chấp “nổi cộm” kéo từ miền Ðông (tiểu bang Maine và New Brunswich) qua miền Tây (Alaska và B.C.). Có những cuộc tranh chấp bắt đầu từ năm 1783, khi nước Mỹ mới ra đời, cho tới những vấn đề gay go nổi bật lên mới ba chục năm gần đây, khi Canada xác định đường biển xuyên Bắc Cực là lãnh hải nước họ, còn Mỹ thì coi đó là hải phận quốc tế! Chính phủ hai nước Mỹ và Canada vẫn tiếp tục cãi nhau không ai chịu nhường ai, suốt hai trăm năm rồi chưa nghỉ. Nhưng hai nước vẫn thân thiện không bao giờ phải gây chiến với nhau (họ đánh nhau lần chót vào năm 1812, gần với bây giờ hơn cuộc chiến giữa quân Việt Nam và nhà quân Thanh vào năm 1789). Ngoài các cuộc tranh chấp với Mỹ ra, Canada còn tranh chấp biên giới với cả Ðan Mạch nữa, nếu quý vị tò mò muốn biết thêm!

    Nếu trên thế giới các nước láng giềng gần hoặc xa có thể cãi cọ nhau về biên giới hàng trăm năm mà lúc nào cũng có thể giao thương thân thiện, thì tại sao đảng Cộng Sản Việt Nam lại phải vội vàng làm công việc phân định biên giới với Trung Quốc cho lẹ như vậy? Chắc hẳn hai đảng Cộng Sản họ phải có những “ý đồ” mà người dân thường không hiểu được!

    Bản tin chính thức của nhà nước Việt Nam nói rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đã gặp ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Cộng Vũ Ðại Vỹ vào ngày 29 Tháng Mười Hai, 2008. Trước mặt ông Vũ Ðại Vỹ, ông Dũng bảo phái đoàn phía Việt Nam phải “tích cực đẩy mạnh tiến độ để kết thúc phần việc còn lại trong tiến trình phân biên giới và cắm mốc.”

    Ngày 29 tức là chỉ có hai ngày là hết năm 2008, như vậy thì khi ông Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh cho nhân viên trong chính phủ của ông phải “tích cực đẩy mạnh tiến độ” có nghĩa là họ phải làm gì? Trong 2 ngày còn lại đó các chuyên viên Việt Nam không thể nào duyệt lại được 2000 biên bản ghi về các vụ cắm mốc, với 2000 cái mốc. Cũng không thể đi coi lại bất cứ một cái mốc nào còn bị nghi ngờ không đích xác. Cho nên, nói “tích cực đẩy mạnh tiến độ” chỉ có nghĩa là thúc giục “ký cái gì thì ký luôn cho nó rồi!”

    Vì thế ngày hôm qua, mùng 2 Tháng Giêng năm 2009, hai bên chính phủ mới “thông báo đã hoàn tất quá trình phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền trong năm 2008 như hạn định.”

    Bản thông báo này sẽ đi vào lịch sử. Giống như lá thư ngày 14 Tháng Chín năm 1958 của ông Phạm Văn Ðồng. Trong lá thư đó, ông “Thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” đã ngỏ ý tán “thành bản tuyên bố về hải phận” của Trung Quốc ra trước đó mười ngày. Tuy ông Ðồng không nói rõ là ông tán thành những cái gì, nhưng phía Trung Quốc họ ghim ngay lấy lời nói đó để giải thích rằng một ông thủ tướng chính phủ Cộng Sản Việt Nam nhân danh cả nước Việt Nam, đã công nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc hải phận Trung Quốc! Tên ông Phạm Văn Ðồng đã được gắn liền với quyết định của Cộng Sản Việt Nam nhắm mắt cho nước bạn xã hội chủ nghĩa phương Bắc thâu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào hải phận - vì lợi ích của mặt trận vô sản toàn thế giới chống đế quốc Mỹ!

    Bản thông báo chung ngày đầu năm 2009 cũng có thể được Bắc Kinh giải thích theo lối tương tự. Bởi vì nội dung nó cũng lập lờ như lá thư của Phạm Văn Ðồng. Họ nói rằng “đã hoàn tất quá trình phân giới cắm mốc biên giới” nhưng không ai được trông thấy cái quá trình đó nó diễn ra và nó kết thúc như thế nào. Không ai được thấy một cái bản đồ nào, nhất là bản địa đồ những nơi mà người dân Việt Nam nghi ngờ Trung Quốc vẫn muốn cưỡng đoạt - kể từ khi họ bắt đầu gửi chí nguyện quân vượt biên sang giúp Cộng Sản Việt Nam vào năm 1950, rồi được thúc đẩy mạnh lần nữa trong cuộc xâm lăng năm 1979.

    Không người Việt Nam nào biết đích xác hai đảng Cộng Sản “đồng chí, anh em” này đã thỏa thuận gì với nhau theo lời lẽ bản thông báo chung trên đây. Ngoài một lời thông báo mơ hồ rằng họ đã “làm xong việc cắm mốc rồi” thì không ai biết họ đã cắm cái gì ở đâu, cắm ra sao!


    Đại diện hai nước Việt Nam - Trung Quốc tại lễ cắm mốc ở Lào Cai tháng 12/2007. Nguồn: Vietnamnet Bản thông báo mơ hồ đó sẽ bị các chính quyền Trung Quốc lợi dụng. Ngay bây giờ hoặc hàng trăm năm sau này, khi không còn chế độ Cộng Sản ở cả hai nước nữa, các người nắm quyền ở Bắc Kinh có thể vin vào câu “hoàn tất quá trình cắm mốc” này để nói rằng trên căn bản, những người cầm quyền ở Hà Nội đã thỏa thuận hoàn toàn với những cột mốc mà người Trung Hoa đã cắm, cho tới ngày 1 Tháng Giêng năm 2009! Bao giờ thì hai bên mới kiểm tra lại được tất cả 2,000 cây cột, so với các bằng chứng lịch sử, để coi mỗi cây cọc có cắm đúng chỗ hay không? Chính quyền Cộng Sản Việt Nam đoán rằng phải mất cả năm mới hoàn tất việc đó. Nhưng nếu khi đi kiểm tra mới nhận ra những điểm sai lầm, cố ý hoặc sơ xuất, ngay trên thực địa, thì còn phải tranh luận cho tới bao giờ? Nếu công việc đó mất một năm trời mới xong, thì tại sao không đợi tới lúc đó hãy thông báo việc hoàn tất? Tại sao phải thông báo chung “đã hoàn tất quá trình phân giới cắm mốc biên giới” ngay từ bây giờ, ngay đầu năm 2009?

    Ở trong “thông báo đã hoàn tất” này có một điều gì khuất tất, cho nên họ mới nói việc hoàn tất “trong năm 2008 như hạn định.” Ai ấn định ra cái hạn định phải làm xong trong năm 2008? Chỉ có mấy ông bà trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam mới biết vì đâu các đồng chí Trung Quốc lại ra cái hạn định đó. Các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết đều đã gặp các người cầm đầu đảng Cộng Sản và chính phủ Trung Quốc. Không biết rằng khi đi nói chuyện như vậy thì họ nhân danh chính phủ nước này nói với chính phủ nước kia, hay họ mang danh nghĩa các đồng chí Cộng Sản Việt Nam nói chuyện với các đồng chí Cộng Sản Trung Quốc? Nếu là đồng chí Cộng Sản với nhau thì mọi chuyện rất dễ nói. Vì đối với các con người Cộng Sản, biên giới quốc gia là một di sản của thời kỳ tư bản bóc lột, do ý thức hệ tư bản bầy đặt ra. Người Cộng Sản đổ máu đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản toàn thế giới, những con người vô sản thì không có quê hương! Ðúng hơn, đối với các chiến sĩ vô sản thì nơi nào có chế độ Cộng Sản nơi đó chính là quê hương! Ông Lê Duẩn đã nổi tiếng với lời tuyên bố coi Liên Xô là quê hương thứ hai của ông.

    Gần đây, một trên báo điện tử ở Việt Nam có phỏng vấn một tác giả ở Quảng Tây chuyên nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Giáo Sư Hoàng Tranh đã in cuốn Hồ Chí Minh với Trung Quốc vào năm 1990, bản tiếng Việt dầy 400 đã được dịch và ấn hành. Nhà báo nghe tác giả Hoàng Thanh kể rằng “trong những tháng cuối cùng cuộc đời Hồ Chí Minh, túc trực bên giường bệnh của ông là một đoàn bác sĩ Trung Quốc, cùng với các bác sĩ Việt Nam.” Chúng ta biết vào những năm cuối đời, năm nào Hồ Chí Minh cũng sang Trung Quốc dưỡng bệnh nhiều tháng để được các y sĩ Trung Hoa điều trị. Trong sách trên, Hoàng Tranh kể, một buổi chiều cuối Tháng Tám, có lúc tỉnh lại, Hồ Chí Minh nói với các bác sĩ người Tầu: “Tôi muốn nghe ai hát một bài ca Trung Quốc.” Một y tá của bệnh viện Bắc Kinh bèn cất giọng hát cho ông nghe, Hoàng Thanh viết, “Hồ Chủ Tịch nghe xong, mỉm cười, và đấy là nụ cười chót của ông trước khi hôn mê cho đến lúc qua đời.” Hồ Chí Minh chết ngày 2 Tháng Chín năm 1969. Những chi tiết trên đây đã được đăng trên báo điện tử ở Việt Nam.

    Con người ta lúc sắp chết ai cũng nhớ đến quê hương của mình, ông Hồ Chí Minh khác, ông muốn nghe một bài hát Trung Quốc. Ông đúng là một con người quốc tế, không có đầu óc chật hẹp như đa số chúng ta! Nụ cười sau cùng trên môi ông là cảm xúc về một bài hát tiếng Trung Quốc, chứ không phải là một bài mẹ ru con vùng Nghệ Tĩnh.

    Nhưng đại đa số người Việt Nam không chia sẻ chí hướng “cách mạng vô sản toàn thế giới” của ông Hồ và các đồng chí do ông dậy dỗ. Cho nên mọi người Việt bình thường vẫn thắc mắc về những mảnh đất đã mất, những miền biển đã bị cướp. Cho nên trong nấy ngày đầu năm 2009 trên các mạng lưới ở Việt Nam lại xôn xao chuyện biên giới Việt-Trung. Câu hỏi cuối cùng vẫn là: “Tại sao họ phải hoàn tất việc cắm mốc trong năm 2008?”

    Rất có thể vì trong năm qua các ông lãnh tụ Cộng Sản ở Việt Nam đã gặp các đồng chí Trung Quốc rồi phải chấp nhận một điều kiện của họ là “hoàn tất việc cắm mốc trong năm 2008” thì mới được họ đáp lại bằng những điều khác. Chúng ta không biết được hai đảng Cộng Sản đã trao đổi những quyền lợi nào với nhau. Nhưng có thể đoán rằng đảng Cộng Sản Trung Quốc rất thiết tha hoàn tất việc cắm mốc biên giới càng sớm càng tốt. Họ có thể muốn ăn chắc. Ai biết được, sang năm các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng còn ngồi đó hay không? Ai biết được bao giờ thì đảng Cộng Sản Việt Nam cũng phải nhả chính quyền ra cho dân tự do bầu cử chọn lấy? Ở đời có cái gì bền mãi đâu?

    Muốn ăn chắc, Cộng Sản Trung Quốc ấn định một cái mốc: hoàn tất việc cắm mốc biên giới trong năm 2008! Trước ngày cuối năm, ông Vương Gia Thụy, trưởng ban đối ngoại của trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc đã bay sang Hà Nội. Ðã có một thứ trưởng ngoại giao, lại gửi qua thêm một ủy viên trung ương đảng, chắc hẳn là để nhắc nhở các đồng chí Cộng Sản Việt Nam về tình đoàn kết Cộng Sản toàn thế giới!

    Nhưng chắc các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam cũng khôn chứ không ngu dại. Họ đồng ý với các đồng chí Trung Quốc, nhưng suốt năm vẫn trì hoãn. Ðến cuối năm, họ không dám ký một nghị định thư mà chỉ làm một bản thông báo chung thôi. Cũng giống như ông Phạm Văn Ðồng ngày xưa vậy, nghĩ rằng mình cứ nói “tán thành” chung chung, không nói tán cái gì và thành cái gì cả, cũng được. Nhưng áo mặc không qua khỏi đầu, Phạm Văn Ðồng làm sao đánh lừa được Chu Ân Lai! Ký một chữ, ghi tên vào lịch sử!

    Bây giờ cũng vậy. Bản thông báo chung loan tin “hoàn tất việc cắm mốc” nhưng không cho biết chi tiết cái mốc nào ở đâu. Sẽ từ từ coi, sẽ bàn cãi thêm. Nhưng trong khi bàn cãi như vậy, bên nào sẽ mạnh miệng? Người ta bảo “mạnh vì gạo, bạo vì tiền!” Bây giờ hàng hóa Trung Quốc đang tràn ngập Việt Nam, đến nỗi quả trứng, mớ rau nhập từ Trung Quốc cũng rẻ hơn hàng sản xuất ở Việt Nam! Nếu ông Vũ Ðại Vỹ đạt được đúng yêu cầu ông nói, là “phát triển sâu rộng quan hệ hợp tác chiến lược song phương” thì không biết công nhân các xí nghiệp Việt Nam, các nhà nông Việt Nam còn có việc gì làm không, ngoài việc đi làm mướn cho Trung Quốc?

    Ví thử các cuộc tranh luận về 2000 cột mốc kéo dài hàng trăm năm mới kết thúc, thì trong thời gian đó, dù chưa có bản hiệp định nào được ký kết cả, chính quyền ở Bắc Kinh vẫn có thể vin vào bản thông báo chung ngày đầu năm 2009 để nói với cả thế giới rằng một chính quyền đại diện cho toàn thể nước Việt Nam đã công nhận là việc cắm mốc kết thúc tốt đẹp mĩ mãn rồi! Không còn gì để bàn cãi lại nữa! Và như vậy thì cái tên ông Nguyễn Tấn Dũng hàng trăm năm sau sử sách sẽ còn ghi cho hậu thế không quên!

    Trả lờiXóa
  19. Nặc danh9/1/09 13:01

    Tuyên Cáo Của GHPGVNTN Về Công Hàm Bán Nước 1958
    PTTPGQT

    PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
    Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
    Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
    E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com



    ****



    Tuyên cáo của Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, về Công hàm 14.9.1958 chống Tổ tiên nước Việt
    PARIS, ngày 15.9.2008 (PTTPGQT) - Viện Hóa Đạo vừa gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến Tuyên cáo của Hội đồng Lưỡng Viện (tức Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo) về Công hàm 14.9.1958 chống tổ tiên nước Việt.

    Tuyên cáo được Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, nhân danh Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo, ký vào đúng ngày 14.9.2008 tại Saigon nói lên lập trường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đối với Công hàm của cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho ông Chu Ân Lai, Tổng lý Quốc vụ Viện Trung quốc, cách đây đúng 50 năm. Đây là lập trường mà Đức cố Tăng thống Thích Huyền Quang từng minh xác trong Thông điệp Phật Đản năm nay, 2008 : “Người Phật tử bối đắp tâm linh bao nhiêu cho tiến trình giải thoát giác ngộ, thì càng bảo vệ lãnh thổ bấy nhiêu cho chủ quyền của nòi giống tự do thoát ly nô lệ”.

    Thực vậy, người Phật tử không thể sống trên không trung, mà cư trú nơi lãnh thổ quốc gia sinh dưỡng mình. Lãnh thổ bị uy hiếp, cuộc sống và tu hành của người Phật tử đồng thời là người công dân cũng bị uy hiếp. Vì vậy không thể làm ngơ.

    Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) đưa ra 4 nhận định trên mặt dân tộc và pháp lý để xác quyết “Công hàm ngày 14.9.1958 của ông Phạm Văn Đồng vô giá trị trên mặt pháp lý quốc tế, pháp lý quốc gia và ý chí dân tộc. Công hàm chỉ là dự tính chia chác phi pháp giữa hai đảng Cộng sản Việt-Trung”. Sau phần nhận định, Tuyên cáo yêu sách nhà cầm quyền Hà Nội có văn kiện phủ nhận Công hàm ngày 14.9.1958, trả tự do cho những thanh niên, sinh viên bị bắt trong mấy ngày vừa qua vì biểu dương ý thức dân tộc về sự bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải. Mặt khác, Tuyên cáo cũng yêu sách nhà cầm quyền Hà Nội “tôn trọng và bảo đảm quyền tự do biểu tỏ và biểu tình” làm “bài học và động thủ nhằm giáo dục công dân phát huy lòng yêu tổ quốc và bảo vệ nền công lý nhân loại”. Đặc biệt là yêu sách bỏ điều 4 trên Hiến pháp nhằm “tạo điều kiện cho sự tham gia cứu quốc của toàn dân, của mọi thành phần dân tộc, mọi gia đình tôn giáo và chính trị”.

    Dưới đây là toàn văn Tuyên cáo về Công hàm ngày 14.9.1958 chống Tổ tiên nước Việt:


    GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
    VIỆN HÓA ÐẠO
    Thanh Minh Thiền viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP. Saigon
    Phật lịch 2552 Số : 32/VHÐ/VT

    TUYÊN CÁO
    của Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,
    về Công hàm 14.9.1958 chống Tổ tiên nước Việt


    Hôm nay, ngày đánh dấu 50 năm cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết Công hàm gửi ông Chu Ân Lai, Tổng lý Quốc vụ Viện Trung quốc, minh xác bằng văn bản chủ quyền Trung quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là hệ quả của một ý thức hệ ngoại nhập phản chống nền tư tưởng và văn hiến lâu đời của dân tộc Việt Nam : Chủ nghĩa đại đồng phiến diện Cộng sản dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã từ khước sự toàn vẹn lãnh thổ, xóa nhòa biên cương tổ quốc trên biển, đem lãnh hải dâng hiến cho Bắc phương.

    Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, nhận định rằng:

    Công hàm ngày 14.9.1958 của ông Phạm Văn Đồng chống lại Tổ tiên nước Việt đổ bao xương máu suốt hai mươi thế kỷ qua để gìn giữ và mở mang bờ cõi dân tộc ;

    Công hàm ngày 14.9.1958 của ông Phạm Văn Đồng chỉ đại diện cho thiểu số đảng viên Đảng Cộng sản mà không đại biểu cho toàn dân miền Bắc Việt Nam, vì nội dung bán nước của công hàm không được trưng cầu dân ý, cũng không được thông qua trước Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dù nhân dân không cộng sản chẳng có đại biểu tại Quốc hội này y hệt như tại Quốc hội hiện nay ;

    Công hàm ngày 14.9.1958 của ông Phạm Văn Đồng chiếu theo công pháp quốc tế đã vi phạm chủ quyền Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam nước Việt. Bởi lẽ Hoàng Sa đặt dưới quyền quản lý hành chính tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Trường Sa đặt dưới quyền quản lý hành chính tỉnh Khánh Hòa. Cả hai tỉnh thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa là quốc gia được Hiệp định Genève năm 1954 và hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận ;

    Chiếu điều 17 trên Hiến Pháp hiện hành (1992), quy định “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời (...) đều thuộc sở hữu toàn dân” ;

    Xem như thế Công hàm ngày 14.9.1958 của ông Phạm Văn Đồng vô giá trị trên mặt pháp lý quốc tế, pháp lý quốc gia và ý chí dân tộc. Công hàm chỉ là dự tính chia chác phi pháp giữa hai đảng Cộng sản Việt-Trung.


    NAY HỘI ĐỒNG LƯỠNG VIỆN,
    GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT,
    TUYÊN CÁO CÁC YÊU SÁCH SAU ĐÂY:


    1. Nhà cầm quyền Hà Nội cần có văn thư chính thức gửi Cộng hòa Nhân dân Trung quốc phủ nhận Công hàm ngày 14.9.1958 của ông Phạm Văn Đồng, đồng thời minh định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa được khám phá ít nhất từ thế kỷ XV và sử dụng chủ quyền từ thế kỷ XVII. Trong khi ấy hai quần đảo này chỉ được đề cập như những hải đảo nhìn thấy trên lộ trình thám hiểm xuyên qua Biển Đông trong sách sử Trung quốc;

    2. Trả tự do tức khắc cho những cá nhân, đặc biệt giới thanh niên, sinh viên bị bắt giữ trong mấy ngày qua, vì đã lên tiếng phản đối Công hàm Chống Tổ Tiên Nước Việt ký ngày 14.9.1958, hoặc tham gia tập họp biểu dương ý chí bảo vệ lãnh thổ để ghi nhớ 50 năm ngày quốc nhục nhượng địa phi pháp cho ngoại bang ;

    3. Tôn trọng và bảo đảm cho nhân dân tự do biểu tỏ và biểu tình, chiếu theo điều 69 trên Hiến pháp, để nói lên ý chí của Tổ tiên và toàn dân quyết tâm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ trước mọi âm mưu ngoại bang xâm lược hay lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hãi, mà tiền nhân đã đổ biết bao xương máu gìn giữ suốt hai nghìn năm qua. Sự tôn trọng và bảo đảm tự do biểu tỏ và biểu tình này còn là bài học và động thủ nhằm giáo dục công dân phát huy lòng yêu tổ quốc và bảo vệ nền công lý nhân loại ;

    4. Loại bỏ điều 4 trên Hiến pháp tạo điều kiện cho sự tham gia cứu quốc của toàn dân, của mọi thành phần dân tộc, mọi gia đình tôn giáo và chính trị ; vì

    4.1. Ba triệu đảng viên Cộng sản và nửa triệu bộ đội hiện tại chưa đủ thế và lực bảo vệ tổ quốc trên mặt quốc phòng, chưa đủ uy và dũng mở rộng mặt trận chính trị và ngoại giao quốc tế, mà cần tới sự tham gia toàn diện của 85 triệu dân và 3 triệu Người Việt hải ngoại ;

    4.2. Lịch sử Việt Nam qua bao đời từng khẳng định như chân lý rằng : Dựa vào sức mạnh toàn dân làm nòng cốt để giữ nước. Kẻ nào cứ nay chạy theo nước này mai chạy theo nước khác cầu viện để bảo vệ quyền bính riêng tư của một nhóm người, thì hậu quả sẽ là mất nước và biến mình thành công cụ tay sai cho ngoại nhân mà thôi.

    Thanh Minh Thiền viện, Saigon ngày 14.9.2008
    Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống
    kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN
    (ấn ký)
    Sa môn Thích Quảng Độ

    Trả lờiXóa
  20. Nặc danh9/1/09 13:06

    9 Thủ Đoạn Xâm Lấn Của Trung Quốc
    Chân Trời Mới
    Các bài liên hệ:
    Hoàn tất phân giới cắm mốc biên giới Việt - Trung: Đâu là sự thật – Đâu là dối trá lừa bip

    Thưa quí thính giả và độc giả của Radio Chân Trời Mới,

    Chỉ vào một vài thời điểm rất hiếm hoi trong hơn nửa thế kỷ qua mà nhà cầm quyền CSVN thực sự tiết lộ những hành vi và ý định xâm lấn có tính qui mô, kế hoạch và liên tục của Bắc Kinh đối với lãnh thổ Việt Nam. Vào năm 1979, khi các xung đột lớn diễn ra giữa 2 nước, Lãnh đạo Đảng CSVN đã cho in 3 cuốn sách với tựa đề:

    Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam - Trung Quốc Trong 30 Năm Qua của Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN.

    Phê Phán Chủ Nghĩa Bành Trướng và Bá Quyền Nước Lớn Của Giới Cầm Quyền Phản Động Bắc Kinh của Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam.

    Vấn Đề Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc của Nhà xuất bản Sự Thật.

    Dưới đây là nguyên văn chương 2 của cuốn "Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc", liệt kê 9 loại thủ đoạn mà Trung Quốc đã sử dụng để xâm chiếm đất nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua.

    --------------------------------------------------------------------------------

    Chương 2
    Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay

    Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đã lần lượt lấn chiếm hết khu vực này đến khu vực khác của Việt Nam, từ khu vực nhỏ hẹp đến khu vực to lớn, từ khu vực quan trọng về quân sự đến khu vực quan trọng về kinh tế. Họ đã dùng đủ loại thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn xấu xa mà các chế độ phản động của Trung Quốc trước kia không dùng. Dưới đây là một số thủ đoạn chính:

    1- Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất.

    Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một giải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư. Những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.

    Khu Vực Trình Tường thuộc tỉnh Quảng Ninh là một thí dụ điển hình cho kiểu lấn chiếm đó. Khu vực này được các văn bản và các bản đồ hoạch định và cắm mốc xác định rõ ràng là thuộc lãnh thổ Việt Nam. Trên thực tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình Tường, những người Trung Quốc sang quá canh ở Trình Tường đều đóng thuế cho nhà đương cục Việt Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. Nhà đương cục Trung Quốc nghiễm nhiên biến một vùng lãnh thổ Việt Nam dài 6 kí-lô-mét, sâu hơn 1300 kí-lô-mét thành sở hữu tập thể của một công xã Trung Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt Nam đã nhiều đời nay làm ăn sinh sống ở Trình Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện thoại, tự cho phép đi tuần tra khu vực này, đơn phương sửa lại đường biên giới sang đồi Khâu Thúc của Việt Nam. Tiếp đó, họ đã gây ra rất nhiều vụ hành hung, bắt cóc công an vũ trang Việt Nam đi tuần tra theo đường biên giới lịch sử và họ phá hoại hoa màu của nhân dân địa phương. Trình Tường không phải là một trường hợp riêng lẻ, còn đến trên 40 điểm khác mà phía Trung Quốc tranh lấn với thủ đoạn tương tự như xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc (mốc 25, 26, 27) ở Lạng Sơn, Khẳm Khau (mốc 17-19) ở Cao Bằng, Tả Lũng, Làn Phù Phìn, Minh Tân (mốc 14) ở Hà Tuyên, khu vực xã Nặm Chay (mốc 2-3) ở Hoàng Liên Sơn với chiều dài hơn 4 kí-lô-mét, sâu hơn 1 kí-lô-mét, diện tích hơn 300 héc-ta.

    Có thể nói đây là một kiểu chiếm đất một cách êm lặng.

    2- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.

    Năm 1955, tại khu vực Hữu nghị quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên, gần Hà Nội, lợi dụng long tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt-Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300 mét so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho nghành đường sắt hai bên điều chỉnh lại đường nối ray cho phù hợp đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét. Cho đến nay, họ vẫn trắng trợn ngụy biện rằng khu vực hơn 300 mét đường sắt đó là đất Trung Quốc với lập luần rằng “không thể có đường sắt của nước này đặt trên lãnh thổ nước khác”.

    Cũng tại khu vực này, phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam quan 100 mét trên đuờng quốc lộ để xóa vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột kí-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100 mét, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này.

    Như vậy, họ đã lấn chiếm một khu vực liên hoàn từ đường sắt sang đường bộ thuộc xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam, dài 3100 kí-lô-mét và vào sâu đất Việt Nam 0,500 kí-lô-mét. Năm 1975, tại khu vực mốc 23 (xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn), họ định diễn lại thủ đoạn tương tự khi hai bên phối hợp đặt đường ống dẫn dầu chạy qua biên giới: phía Việt Nam đề nghị đặt điểm nối ống dẫn dầu đúng đường biên giới, họ đã từ chối, do đó bỏ dở công trình này.

    Khi xây dựng các công trình cầu cống trên sông, suối biên giới, phía Trung Quốc cũng lợi dụng việc thiết kế kỹ thuật làm thay đổi dòng chảy của sông, suối về phía Việt Nam, để nhận đường biên giới có lợi cho phía Trung Quốc.

    Cầu ngầm Hoành Mô thuộc tình Quảng Ninh được Trung Quốc giúp xây dựng vào năm 1968. Một thời gian dài sau khi cầu được xây dựng xong, hai bên vẫn tôn trọng đường biên giới ở giữa cầu ; vật liệu dự trữ để sửa chữa cầu sau này cũng được đặt ở mỗi bên với số lượng bằng nhau tính theo đường biên giới giữa cầu. Nhưng do Trung Quốc có sẵn ý đồ chỉ xây một cống nước chảy nằm sát bờ Việt Nam nên lưu lượng dòng chảy đã chuyển hẳn sang phía Việt Nam, từ đó phía Trung Quốc dịch đường biên giới trên cầu quá sang đất Việt Nam. Thủ đoạn như vậy cũng được thực hiện đối với cầu ngầm Pò Hèn (Quảng Ninh), đập Ái Cảnh (Cao Bằng), cầu Ba Nậm Cúm (Lai Châu)…

    3- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.

    Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.

    Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung Quốc đã huy động trên 2000 người, kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.

    Các thị trấn Ái Điểm (đối diện với Chi Ma, Lạng Sơn), Bình Mãng (đối diện Sóc Giang, Cao Bằng) vốn đã nằm sát các mốc giới 43 và 114, lại ngày càng được phía Trung Quốc mở rộng ra lấn sang đất Việt Nam từ hang chục đến hàng trăm mét với Công trình nhà cửa, trường học, khu phố…

    Bằng cách tổ chức lâm trường, trồng cây gây rừng, làm đường chắn lửa, đặt hệ thống điện cao thế, điện thoại lấn vào lãnh thổ Viêt Nam, Trng Quốc đã biến nhiều vùng đất khác của Việt Nam thành đất của Trung Quốc.

    4- Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc.

    Ở một số địa phương, do địa hình phức tạp, điều kiện sinh hoạt của dân cư Trung Quốc gặp khó khăn, theo yêu cầu của phía Trung Quốc, Việt Nam đã cho Trung Quốc mượn đường đi lại, cho dùng mỏ nước, cho chăn trâu, lấy củi, đặt mồ mã… trên đất Việt Nam. Nhưng lợi dụng thiện chí đó của Việt Nam, họ đã dần dần mặc nhiên coi những vùng đất mượn này là đất Trung Quốc. Khu vực Phia Un (mốc 94-95) thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng là điển hình cho kiểu lấn chiếm này. Tại đây, mới đầu phía Trung Quốc mượn con đường mòn, rồi tự ý mở rộng mặt đường để ô-tô đi lại được vào khu vực mỏ của Trung Quốc, đặt đường dây điện, đưa dân đến ở ngày càng đông, lập làng bản mới. Dựa vào “thực tế” đó, từ 1956 họ không thừa nhận đường biên giới lịch sử chạy trên đỉnh núi Phía Un mà đòi biên giới chạy xa về phía nam con đường, sâu vào đất Việt Nam trên 500 mét. Lý lẽ của họ là nếu không phải đất của Trung Quốc sao họ lại có thể làm đường ô-tô, đặt đường điện thoại được… Nguyên nhân chủ yếu của việc lấn chiếm là vì khu vực Phía Un có mỏ măng-gan.

    5- Xê dịch và xuyên tạc pháp lý các mốc quốc giới để sửa đổi đường biên giới.

    Ngoài việc lợi dụng một số các mốc giới đã bị Trung Quốc xê dịch từ trước sai với nguyên trạng đường biên giới lịch sử để chiếm giữ trái phép đất Việt Nam, nay phía Trung Quốc cũng tự ý di chuyển mốc ở một số nơi, hoặc lén lút đập phá, thủ tiêu các mốc không có lợi cho họ như ở khu vực Chi Ma (Lạng Sơn), khu vực mốc 136 ở Cao Bằng… Đối với những trường hợp như vậy, họ đều khước từ đề nghị của phía Việt Nam về việc hai bên cùng điều tra và lập biên bản xác nhận. Ngay tại một số nơi mà vị trí mốc giới đặt đúng với đường biên giới đã rõ ràng chạy giữa hai mốc như khu cực Kùm Mu-Kim Ngân-Mẫu Sơn (mốc 41, 42, 43) ở Lạng Sơn dài trên 9 ki-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 2,5 ki-lô-mét, diện tích gần 1000 héc-ta, khu vục Nà Pảng – Kéo Trình (mốc 29, 30, 31) ở Cao Bằng, dài 6,450 ki-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 1,300 ki-lô-mét, diện tích gần 200 héc-ta.

    6- Làm đường biên giới lấn sang đất Việt Nam.

    Để chuẩn bị cho các cuộc tiến công xâm lược Việt Nam, liên tiếp trong nhiều năm trước, phía Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch làm đường biên giới quy mô lớn nấp dưới danh nghĩa là để “cơ giới hóa nông nghiệp”. Đặc biệt là từ năm 1974 lại đây, họ đã mở ồ ạt những chiến dịch làm đường có nơi huy động một lúc 8,000 người vào công việc này. Trong khi làm các đường đó, họ phá di tích về đường biên giới, lịch sử, nhiều nơi họ đã lấn vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ tính từ tháng 10 năm 1976 đến năm 1977, bằng việc làm đường biên giới họ đã lấn vào đất Việt Nam tại hàng chục điểm, có điểm diện tích rộng trên 32 héc-ta, sâu vào đất Việt Nam trên 1 kí-lô-mét như khu vực giữa mốc 63-65 thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng hay khu vực giữa mốc 1-2 Cao Ma Pờ thuộc tỉnh Hà Tuyên dài 4 kí-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 2 kí-lô-mét.

    7- Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới.

    Năm 1955-1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc. Thí dụ: họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác-Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.

    8- Dùng lực lượng vũ trang uy hiếp và đóng chốt để chiếm đất.

    Trên một số địa bàn quan trọng, phía Trung Quốc trắng trợn dùng lực lượng võ trang để cố đạt tới mục đích xâm lấn lãnh thổ. Tại khu vực Trà Mần-Suối Lũng (mốc 136-137) thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, năm 1953 Trung Quốc đã cho một số hộ dân Trung Quốc sang xâm cư ở cùng dân của Việt Nam, sau đó, họ tiếp tục đưa dân sang thêm hình thành ba xóm với 16 hộ, 100 nhân khẩu mà họ đặt tên Si Lũng theo tên một làng ở Trung Quốc gần đó. Tuy thế, cho đến năm 1957 phía Trung Quốc vẫn thừa nhận khu vực nầy là đất của Việt Nam. Từ năm 1957 trở đi, họ tiến hành việc dựng trường học, bắc dây truyền thanh đào hố khai thác than chì rồi ngang nhiên cắm cờ biểu thị chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Tháng 6 năm 1976, họ đã trắng trợn đưa lực lượng vũ trang đến đóng chốt để đàn áp quần chúng đấu tranh và ngăn cản việc tuần tra của Việt Nam vào khu vực này, chiếm hẳn một vùng đất của Việt Nam trên 3,2 kí-lô-mét, có mỏ than chì.

    Ở khu vực giữa mốc 2-3 thuộc xã Nậm Chảy, huyện Mường Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn cũng xảy ra tình hình như vậy. Năm 1967-1968, nhiều hộ người Mèo thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chạy sang định cư ở đây. Phía Việt Nam đã yêu cầu phiá Trung Quốc đưa số dân đó trở về Trung Quốc, nhưng họ đã làm ngơ, lại tiếp tục tăng số dân lên đến 36 hộ gồm 152 người, vào vùng nầy thu thuế, phát phiếu vải cho dân, đặt tên cho xóm dân Mèo này là “Sin Sài Thàng”, tên của một bản Trung Quốc ở bên kia biên giới cách khu vực này 3 ki-lô-mét. Mặc dù phía Việt Nam đã nhiều lần kháng nghị, họ vẫn không rút số dân đó đi, trái lại năm 1976 còn đưa lực lượng vũ trang vào đóng chốt chiếm giữ. Nay họ đã lập thêm đường dây điện thoại, loa phóng thanh, dựng trường học, tổ chức đội sản xuất, coi là lãnh thổ Trung Quốc.

    9- Đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (3).

    Quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) cách Đà Nẵng khoãng 120 hải lý về phía đông. Phía Việt Nam có đầy đủ tài liệu để chứng minh rằng quần đảo này, cũng như quần đảo Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) ở phía nam, là lãnh thổ Việt Nam. Từ lâu, nhân dân Việt Nam đã phát hiện và khai thác quần đảo Hoàng Sa; nhà Nguyễn đã chính thức thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó. Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ nước Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX, Pháp, nhân danh nước Việt Nam, đã lập trạm khí tượng mà các số liệu được cung cấp liên tục trong mấy chục năm cho Tổ Chức Khí tượng thế giới (OMM) dưới ký hiệu Hoàng Sa (Pattle). Việt Nam đã liên tục thực hiện chủ quyền của mình đối với quần đảo này. Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa là rõ rang và không thể chối cãi được.

    Nhưng sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam theo quy định của Hiệp định Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973, và nhân lúc nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng miền nam Việt Nam và ngụy quyền miền nam sắp sụp đổ, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã trắng trợn dùng lực lượng vũ trang chiếm quần đảo Hoàng Sa.

    Cách họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vẫn là cách họ đã dùng để lấn chiếm đất đai của các nước láng giềng, nhưng với một sự phản bội hèn hạ vì họ luôn luôn khoe khoang là “hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam anh em”. Đại để sự kiện diễn biến như sau:

    Ngày 26 tháng 12 năm 1973, Bộ ngoại giao Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông báo cho Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa biết ý định của mình sẽ tiến hành thăm dò dầu lửa trong vịnh Bắc Bộ và đề nghị hai nước tiến hành đàm phán để xác định chính thức biên giới giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ

    Ngày 11 tháng 1 nắm 1974, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc tuyên bố đảo Tây Sa (tức là Hoàng Sa của Việt Nam), quần đảo Nam Sa (tức là Trường Sa của Việt Nam) là lãnh thổ của Trung Quốc và không cho ai xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của Trung Quốc.

    Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Chính phủ Trung Quốc trả lời phiá Việt Nam, đại ý nói: đồng ý đề nghị đàm phán về vịnh Bắc Bộ, nhưng không đồng ý cho nước thứ ba vào thăm dò, khai thác vịnh Bắc Bộ, thực tế là họ ngăn cản Việt Nam hợp tác với Nhật-bản, Pháp, Ý trong việc thăm dò, khai thác thềm lục địa Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ.

    Ngày 19 tháng 1 năm 1974, với một lực lượng lớn hải quân và không quân, Trung Quốc tiến hành đánh quân đội của chính quyền Sài Gòn đóng ở quần đảo Hoàng Sa và họ gọi cuộc hành quân xâm lược quần đảo này là “cuộc phản công tự vệ”.

    Từ năm 1973 về trước, phía Trung Quốc đã lấn chiếm, gây khiêu khích ở nhiều nơi trên biên giới Việt-Trung. Từ khi họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, các sự kiện biên giới do họ gây ra, các vụ lấn chiếm đất đai Việt Nam ngày càng tăng:

    Năm 1974: 179 vụ.
    Năm 1975: 294 vụ.
    Năm 1976: 812 vụ.
    Năm 1977: 873 vụ.
    Năm 1978: 2175 vụ.

    Trả lờiXóa
  21. Nặc danh9/1/09 13:06

    Cùng nhau gọi vào Sứ quán Trung Quốc phản đối thái độ xấc xược của Bắc Kinh

    Thay vì phản đối hành động xâm lấn của Trung Quốc và tìm mọi cách giành lại các hải đảo Hoàng Sa - Trường Sa, cả 3 lãnh tụ cao nhất đảng CSVN đều vừa liên tiếp thề hứa trước thềm cửa Bắc Kinh là sẽ thờ bái 16 chữ vàng và không đòi gì thêm nữa tại biển Đông.

    Dấu hiệu phục lạy “thiên triều” của toàn bộ lãnh đạo đảng CSVN được hiển thị rõ nhất bằng việc đồng ý đón rước tàu chiến của Hải quân Trung Quốc mang tên Trịnh Hòa vào cảng Đà Nẵng từ ngày 18 đến 22 tháng 11 năm 2008; Vì Trịnh Hòa là tên của vị quan đời nhà Minh mà Bắc Kinh đang trắng trợn gọi là người đã chiếm Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc; và Đà Nẵng là cảng lớn gần nhất của ta hướng ra quần đảo Hoàng Sa.

    Do đó, việc Bắc Kinh đưa tàu chiến Trịnh Hòa vào đậu ngay tại cảng Đà Nẵng là hành động thách thức trắng trợn và vô cùng xấc xược đối với dân tộc Việt Nam !

    Việc nối chuyến đi của đoàn tàu Trịnh Hòa 600 năm trước vào Hoàng Sa - Trường Sa ngày nay là 1 lập luận gian ngoa. Không thể cứ mảnh đất nào Trịnh Hòa nhìn thấy đều đương nhiên trở thành đất Tàu. Và nếu đúng như thế thì phải có tới hàng ngàn hải đảo suốt từ Đông Nam Á sang đến tận Phi Châu nay thuộc chủ quyền Trung Quốc.

    Thay vì kịch liệt phản đối những lập luận gian ngoa đó, những người lãnh đạo đảng CSVN lại chỉ biết quay vào cấm báo, đài không được gọi tên tàu chiến đó là Trịnh Hòa và chỉ thị cho công an chuẩn bị khủng bố, trấn áp các ý định biểu tình phản đối của nhân dân Việt Nam.

    Còn nỗi nhục nào lớn hơn cho Dân Tộc Việt !

    Hỡi các bạn đang đau xót cho thân thể và danh dự tổ quốc, Chúng ta phải vượt qua hàng rào công an để gào lên lời phản đối ! Chúng ta phải khẳng định dân tộc Việt Nam không bao giờ chấp nhận dâng cúng Hoàng Sa-Trường Sa cho bất kỳ ngoại bang nào !

    Hãy cùng nhau gọi điện thoại phản đối vào thẳng Sứ quán và Lãnh sự Trung Quốc tại Việt Nam vào các ngày 18 đến 22 tháng 11 năm 2008, tức thời gian tàu chiến Trịnh Hòa đậu trên đất Việt.

    Các số điện thoại và fax:

    Sứ quán: ĐT: +84-4-8453736, hoặc 903441338 – Fax: +84-4-8232826
    Phòng Lãnh sự Hà Nội: ĐT: +84-4-8235569 - Fax: +84-4-7341181
    Phòng Chính Ủy: ĐT: +84-4-7338063, 7334685, 7334684
    Phòng Hành chánh: ĐT: +84-4-8453737 - Fax: +84-4-8232826
    Phòng Văn hóa: ĐT: +84-4-8235517 - Fax: +84-4-7338064
    Phòng Thương mại: ĐT: +84-4-7338124, 7338125 - Fax: +84-4-8234286
    Tùy viên Quân sự: ĐT: +84-4-8453736
    Lãnh sự quán: ĐT: +84-8-8292457 – Fax: +84-8-8295009, 8231142
    Phòng Kinh tế: ĐT: +84-8-8292463 - Fax: +84-8-8231142
    Các địa chỉ Email:

    chinaemb_vn@mfa.gov.cn
    chinaconsul_hcm_vn@mfa.gov.cn
    ptmchn@hcm.vnn.vn
    Xin bạn tiếp tay chuyển gấp lời kêu gọi này đến những người Việt yêu nước khác

    Trả lờiXóa
  22. Nặc danh9/1/09 13:07

    KIẾN NGHỊ HỦY BỎ CÔNG HÀM 14 THÁNG 9 NĂM 1958 CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG
    10/09/2008

    Kính gửi:

    - Ông Nông Đức Mạnh, Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam
    - Ông Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
    - Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng Chính Phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
    - Ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ Tịch Quốc Hội Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.


    Thưa các ông,

    Từ nhiều năm nay, Chính phủ ta đã khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Nhưng thực tế cho thấy phía chính quyền Trung Quốc đã không những không tôn trọng điều khẳng định của Chính phủ ta mà còn liên tục có những hành động xâm phạm chủ quyền của ta:

    Tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đã xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa.

    Tháng 5 năm 1988, Trung Quốc đã xâm chiếm nhiều đảo ở Trường Sa.

    Tháng 11 năm 2007, Trung Quốc đã cho thiết lập huyện Tam Sa để trực tiếp quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong lúc hai quần đảo này còn trong vòng tranh chấp giữa ta và chính quyền Trung Quốc.

    Tháng 7 năm 2008, Trung Quốc đã cảnh báo và yêu cầu tập đoàn dầu khí Exxon Mobil của Hoa Kỳ rút khỏi hợp đồng khai thác mỏ dầu với chính phủ ta. Trước đó, vào tháng 6 năm 2007, nhà cầm quyền Trung Quốc cũng đã phản đối và yêu cầu ngưng hợp đồng giữa Chính phủ ta với tập đoàn dầu khí BP của Anh nhằm nghiên cứu dầu khí gần khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khiến cho tập đoàn BP đã phải tạm ngưng kế hoạch xúc tiến.

    Mới đây, trong khi chuẩn bị Thế vận hội Bắc Kinh năm 2008, nhà cầm quyền Trung Quốc đã vẽ lại bản đồ Trung Quốc trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Giữa tháng 8 năm 2008, hải quân Trung Quốc trang bị dàn hỏa tiễn tối tân xâm nhập vào khu vực lãnh hải của Việt Nam.

    Những hành động nói trên cho thấy là nhà cầm quyền Trung Quốc coi thường công luận và tiếp tục xâm phạm hải đảo của Việt Nam, trong khi Chính phủ ta chỉ lên tiếng phản đối một cách quá dè dặt. Một trong những văn bản bị Trung Quốc lợi dụng để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa là Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho thủ tướng Chu Ân Lai vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 xác nhận rằng: "Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc". ( Bản Tuyên bố của Trung Quốc khẳng định hải phận 12 hải lý của họ, trong đó bao gồm chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ). Sau này, chính phủ ta có giải thích về lý do ra đời của Công hàm vào năm 1958 là hoàn toàn mang tính ngoại giao không ảnh hưởng gì đến chủ quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, Trung Quốc không đếm xỉa gì đến giải thích này.

    Nhiều thế hệ Việt Nam đã anh dũng chiến đấu để bảo vệ giang sơn tổ quốc. Chúng ta trong thế hệ này không những tiếp tục bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của cha ông để lại mà còn phải can đảm sửa sai những lầm lẫn của quá khứ để không tiếp tục trao gánh nặng lại cho thế hệ tương lai. Những sai lầm của ta xuất phát từ niềm tin trong sáng vào họ khi cùng họ đấu tranh cho một ý thức hệ mà ta tưởng là lý tưởng. Nay chính họ đã phản bội lại tất cả và ngày càng biểu lộ dã tâm xâm lăng đất nước ta, bởi vậy, ta không thể không có thái độ dứt khóat và hành động mạnh mẽ để đáp trả đích đáng dã tâm của đối phương.

    Ngày 14 tháng 9 năm nay là vừa tròn nửa thế kỷ đã trôi qua đối với bản công hàm do cá nhân thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký mà không thông qua Quốc hội, không trưng cầu ý kiến toàn dân. Bởi vậy, nhân dịp này chúng tôi khẩn thiết đề nghị Nhà nước ta chính thức tuyên bố hủy bỏ Công hàm mà cá nhân thủ tường Phạm văn Đồng đã ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 gửi cá nhân thủ tướng Chu Ân Lai.

    Chúng tôi hoàn toàn tin rằng đây là sở nguyện của toàn dân Việt Nam và làm được như vậy mới có thể chuộc lỗi cùng Tổ quốc và Nhân dân, từ đó sẽ cứu vãn được lòng tin.

    Hà Nội ngày 2 tháng 9 năm 2008

    Những người ký tên kiến nghị: (Đến ngày 4/9/2008)

    Cựu chiến binh ( theo thứ tự tên gọi)

    1. Phan Anh - thương binh, giáo viên trường PTTH Quang Trung, tp Hà Đông
    2. Phạm Quế Dương - đại tá QĐND VN, 37 Lý Nam Đế, Hà Nội
    3. Lê Điệp - CCB, 17 Hàng Quạt, Hà Nội
    4. Lê hữu Điệp - CCB, 40, phường Phúc Tân, Hoàn Kiếm, Ha Nội
    5. Lý Anh Kim - CCB, 87, Phường Phúc Xá, Ba Đình, Ha Nội
    6. Trần Anh Kim - Trung tá QĐNDVN, biên tập viên tập san Tổ Quốc
    7. Nguyễn Trọng Lâm - CCB, 46 Trần Hưng Đạo, Hà Nội
    8. Nguyễn văn Miến - đại tá QĐNDVN, 30 đường Nguyễn Cao, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
    9. Nguyễn Kim Nhàn - CCB, số nhà 1413, khu 34, thành phố Bắc Giang
    10. Nguyễn Thanh Nhàn - thương binh chống Mỹ, gv trường PTTH Quang Trung, tp Hà Đông
    11. Phạm văn Phiếu - cựu quyết tử quân Trung đoàn Thủ đô, 8/28 Hương viên, Hai Bà Trưng, Hà Nội
    12. Trịnh Khả Phức - Cựu chiến binh chống Pháp, số 6, nhà P9, khu lắp ghép Trương Định, Hà Nội
    13. Vũ Cao Quận - CCB, Hải Phòng, biên tập viên tập san Tổ Quốc
    14. Lê Anh Sơn - CCB, 17 Nguyễn Du, Hà Nội
    15. Đỗ Việt Sơn - lão thành cách mạng, 4/21. Nguyễn Cao, Hà Nội
    16. Trần Đức Thạch - CCB, Hội viên Hội Văn Nghệ Nghệ An
    17. Nguyễn Thế - CCB, Thanh Xuân, Hà Nội
    18. Đỗ văn Thỉnh - CCB, Văn Phú, Phú La, Hà Đông
    19. Chu văn Thưởng - CCB, 18 Ngõ Quỳnh, Bạch Mai, Hà Nội
    20. Cao Bá Trữ - thiếu tá QĐNDVN, Đống Đa, Hà Nội

    Nhân Dân Việt Nam (theo thứ tự tên gọi)

    1. Tiêu Dao Bảo Cự - nhà văn, Thành phố Đà Lạt
    2. Kim Văn Duy - sinh viên ĐH Kiến Trúc, tp HCM
    3. Ninh Thị Định - 3/20/215 Lê Lai, Ngô Quyền, Hải Phòng
    4. Nguyễn Thanh Giang - tiến sỹ Địa Vật lý, số 6, tập thể Địa Vật lý Máy bay, Hà Nội
    5. Vi Đức Hồi - Cựu hiệu trưởng Trường Đảng Hữu Lũng, Lạng Sơn, khu An Thịnh, Hữu Lũng, Lạng Sơn
    6. Vũ Hùng - cựu giáo viên vật lý trường PTCS Bích Hòa, Hà Tây
    7. Vũ Mạnh Hùng - Cán bộ quản lý khu nội trú Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thương mại, Hà Nội
    8. Trần Lâm - luật sư, Thành phố Hải Phòng
    9. Mai Thái Lĩnh - cựu Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Đà Lạt, Lâm Đồng
    10. Nguyễn Thượng Long - nhà giáo, Văn La, Văn Khê, Hà Đông
    11. Nguyễn thị Lợi - ( thân mẫu cô Phạm Thanh Nghiên)
    12. Nguyễn Tiến Nam, tổ 24, phường Yến Thịnh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
    13. Võ văn Nghệ - 277A, đường Nguyễn Trãi, phường Tây Sơn, tp Thanh Hóa
    14. Nguyễn Xuân Nghĩa - nhà văn, số nhà 828, đường Trường Chinh, Kiến An, Hải Phòng
    15. Phạm Thanh Nghiên, số nhà 17, Phương Lưu 2, phường Đông Hải, quận Hải An, Hải Phòng
    16. Hà Sỹ Phu - tiến sỹ sinh vật học, 4E Bùi thị Xuân, thành phố Đà Lạt
    17. Lê Minh Phúc - Cựu Tổng giám đốc Liên hiệp Địa Vật lý Máy bay Việt Nam
    18. Phạm Thị Phượng - Cầu Tre, Ngô Quyền, Hải Phòng
    19. Bùi Minh Quốc - nhà văn, 3 Nguyễn Thượng Hiền, Đà Lạt
    20. Ngô Quỳnh - Hiệp Hòa, Bắc Giang
    21. Nguyễn văn Tính (tức Hoàng Hải Minh) Quán Chữ, Hải Phòng, mobile 0984 414479
    22. Lưu thị Thu - 282, Lê Lai, Ngô Quyền, Hải Phòng
    23. Trần Khải Thanh Thủy - nhà văn, biên tập viên tập san Tổ Quốc
    24. Vũ như Ý - nguyên chuyên viên cao cấp Bộ Giao thông vận tải, phường Vĩnh Tuy, Hà Nội
    25. Phạm Thanh Yến, lô A1, Thái Phiên, Cầu Tre, Ngô Quyền, Hải Phòng

    ptdcvn





    --------------------------------------------------------------------------------

    Những bản tin khác:

    TQ dùng Trịnh Hòa cho mục tiêu hiện đại (30/11/2008)
    Trung Quốc, Việt Nam Giải quyết những Tranh chấp (31/10/2008)
    Quan hệ Việt - Trung: Mười tám năm Bắc - thuộc đã là quá đủ ! (19/10/2008)
    Chiến lược hải quân của Trung Quốc và hàm ý của nó đối với khu vực Biển Đông (08/09/2008)
    Trung quốc lại muốn dạy Việt Nam một bài học (24/08/2008)
    Bản Kiến Nghị Ngỏ về ''Hoàng Sa - Trường Sa '' (19/07/2008)
    Căn cứ hải quân Tam Á : chủ bài trong chiến lược khống chế Biển Đông (19/06/2008)
    HOA KỲ VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC (P.2) (29/05/2008)
    Hoàng Sa, Trường Sa và tham vọng quân sự của Trung Quốc (28/05/2008)
    Hoài Vọng Hoàng-Sa (29/04/2008)

    Trả lờiXóa
  23. Nặc danh9/1/09 13:09

    Trung Quốc lợi gì trong chiến tranh Việt Nam?:

    Tuesday, 23 December 20080 y kien Nước Trung Hoa Cộng sản trên trang bìa của tạp chí Time

    Trần Gia Phụng

    1.- TỔNG QUAN

    Chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 30 năm, từ 1946 đến 1975, có thể chia thành ba giai đoạn.

    Giai đoạn thứ nhất từ 1946 đến 1949: Khi Pháp đưa quân tái chiếm Việt Nam, Hồ Chí Minh, mặt trận Việt Minh (VM) và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) nhượng bộ và thỏa hiệp với Pháp, ký liên tiếp hai thỏa ước để duy trì quyền lực của VM và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD). Tuy nhiên, Pháp không ngừng tiến quân và ép VM đến đường cùng. Hồ Chí Minh liền họp trung ương đảng CSĐD trong hai ngày 18 và 19-12-1946 tại Vạn Phúc (Hà Đông) để tham khảo. Cuộc họp đi đến quyết định tấn công Pháp vào tối 19-12-1946.(1) Thế là chiến tranh không tuyên chiến bùng nổ. Từ năm 1946 đến năm 1949, VM vừa đánh, vừa đàm, vừa trốn chạy lên miền rừng núi để chờ đợi thời cơ..

    Giai đoạn thứ hai từ 1950 đến 1954: Trong cuộc tranh chấp tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông và đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) thành công. Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng chạy ra Đài Loan. Mao Trạch Đông công bố thành lập chính thể Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc).

    Hồ Chí Minh và VM cầu viện CSTQ. Nhờ sự giúp đỡ về mọi mặt của của Trung Quốc, VM phản công từ năm 1950 và cuối cùng chiến thắng năm 1954. Chẳng những VM, mà cả Việt Nam se phải trả giá cho sự cầu viện và chiến thắng nầy. Hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai đất nước ở sông Bến Hải, vùng vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức VM cộng sản) ở miền Bắc, Quốc Gia Việt Nam (hậu thân là Việt Nam Cộng Hòa) ở miền Nam. Trước khi ký hiệp định Genève, VM đã đưa ra kế hoạch gài người ở lại miền Nam, trường kỳ mai phục để chống lại QGVN.(2)

    Giai đoạn thứ ba từ 1960 đến 1975: Từ năm 1955, Bắc Việt bắt đầu kiếm cách gây hấn, đòi hỏi Nam Việt phải tổ chức tổng tuyển cử vào năm 1956 theo dự kiến trong điều 7 bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Cần chú ý, bản tuyên bố cuối cùng nầy không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, kể cả phái đoàn VM tức VNDCCH.

    Một bản tuyên bố không có chữ ký không thể là một văn bản pháp lý có tính cưỡng hành, mà chỉ có tính cách dự kiến tương lai mà thôi. Phái đoàn QGVN chẳng những không ký hiệp định Genève, mà còn không tham dự vào bản “Tuyên bố cuối cùng… “, nên tự cho rằng không bị ràng buộc vào điều 7 của bản tuyên bố nầy và không chấp nhận tổng tuyển cử.

    Lấy lý do Nam Việt không chấp nhận tổng tuyển cử, Bắc Việt quyết định tấn công Nam Việt. Đầu tiên, Ban Bí thư Trung ương đảng Lao Động (LĐ, hậu thân của đảng CSĐD) ra chỉ thị ngày 24-5-1958, tổ chức học tập chủ thuyết Mác-Lê để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Bắc Việt và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Nam Việt.

    Vào cuối năm nầy, Lê Duẫn được bí mật gởi vào Nam để nghiên cứu tình hình. Khi trở ra Bắc, bản báo cáo của Lê Duẫn đã đưa đến quyết định của Uỷ ban Trung ương đảng LĐ tại hội nghị lần thứ 15 ở Hà Nội ngày 13-5-1959, theo đó đảng LĐ ra nghị quyết thống nhất đất nước (tức đánh chiếm miền Nam bằng võ lực) và đưa miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa. (Nghị quyết đăng trên Nhân Dân ngày 14-5-1959)

    Nghị quyết trên đây được lập lại trong Đại hội 3 đảng LĐ, khai diễn từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960 tại Hà Nội, mệnh danh là “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà“, đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng LĐ là xây dựng miền Bắc tiến lên Xã hội chủ nghĩa và “giải phóng” miền Nam bằng võ lực. (3) Thế là chiến tranh tái phát từ năm 1960 đến năm 1975. Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Nam Việt ngày 30-4-1975.

    Trong ba giai đoạn trên đây của cuộc chiến ba mươi năm ở Việt Nam, Trung Quốc đã giúp phía VM cộng sản từ giai đoạn thứ hai tức từ năm 1950 trở đi. Sự giúp đỡ của Trung Quốc cho phe cộng sản Việt Nam đã quá rõ ràng, không cần nhắc lại. Ở đây, chỉ xin thử bàn Trung Quốc đã hưởng lợi gì sau khi giúp phe CSVN thắng thế?

    2.- TRONG GIAI ĐOẠN 1950-1954

    An ninh biên giới nam Trung Quốc: Khi CHNDTH được thành lập ngày 1-10-1949, chiến tranh giữa VM và Pháp đã diễn ra được ba năm. Cuối năm 1949, Hồ Chí Minh gởi hai đại diện là Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thủy đến Bắc Kinh xin viện trợ.(4a) Theo sự thỏa thuận giữa hai bên, chính phủ VNDCCH thừa nhận chính phủ CHNDTH ngày 15-1-1950. Ngay sau đó, CHNDTH công nhận trở lại chính phủ VNDCCH ngày 18-1-1950.

    Ngày 30-1-1950, Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh cầu viện. Sau đó, Hồ Chí Minh tiếp tục qua Liên Xô ngày 3-2-1950 để xin Liên Xô viện trợ, nhưng Joseph Stalin, lãnh tụ Liên Xô, trả lời với Hồ Chí Minh rằng việc giúp đỡ VM bước đầu là công việc của CHNDTH.( 4b) Nguyên lúc đó, Liên Xô mới ra khỏi thế chiến thứ hai, vừa lo tái thiết đất nước, vừa lo tổ chức thống trị các nước Đông Âu mà Liên Xô mới chiếm được sau thế chiến thứ hai, và Liên Xô ít có quyền lợi ở Viễn đông, nên Liên Xô ít chú trọng đến Việt Nam.

    Ngày 17-2-1950, Hồ Chí Minh rời Moscow, trở về Bắc Kinh. Tại đây, một hiệp ước phòng thủ hỗ tương giữa VM và Trung Quốc được ký kết, theo đó hai bên hợp tác để tiễu trừ thổ phỉ (ám chỉ Quốc Dân Đảng Trung Hoa và biệt kích Pháp).(5) Hiệp ước nầy cho thấy rõ chủ đích phòng thủ biên giới của CHNDTH khi viện trợ cho VM.

    Nguyên khi Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) chiếm được lục địa, thì Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng Trung Hoa (QDĐTH) chạy ra Đài Loan, cố thủ ở đây. Ngoài ra, khoảng 30,000 quân QDĐTH tràn qua Việt Nam. Số quân nầy bị quân Pháp tước khí giới và tập trung ở vùng mỏ than Đông Triều.(6)

    Cần chú ý, cuối năm 1949, đảo Hài Nam (ở gần Việt Nam) vẫn còn bất ổn. Cho đến ngày 1-5-1950, CSTQ mới đánh chiếm được đảo Hải Nam. Từ đó Hải Nam chính thức thuộc Trung Quốc, trở thành đặc khu trực thuộc tỉnh Quảng Đông của CHNDTH. Vì vậy, đảng CSTQ rất lo ngại về tình hình biên giới phía nam, sợ Hoa Kỳ hay Pháp giúp tàn quân QDĐTH trở về quấy phá biên giới phía NamTrung Quốc.

    Trung Quốc gởi võ khí, đạn dược qua giúp VM chống Pháp để giữ yên và tạo một vùng trái độn giữa Việt Nam và nam Trung Quốc. Số võ khí, đạn dược nầy do quân QDĐTH bỏ lại lục địa trước khi tháo chạy ra Đài Loan. Chẳng những thế, đảng CSTQ còn gởi cố vấn chính trị và quân sự sang giúp VM.

    Chính tướng Trần Canh (Chen Geng), một danh tướng thân cận của Mao Trạch Đông, được gởi sang làm cố vấn cho Hồ Chí Minh, đã giúp VM chiến thắng trận đầu tiên tại Đồng Khê ngày 16-9-1950. Đồng Khê ở phía nam Cao Bằng, phía bắc Thất Khê. (Thất Khê ở phía bắc Lạng Sơn).

    Cũng nhờ chiến thuật công đồn đả viện do Trần Canh cố vấn, tại vùng Cao Bằng-Lạng Sơn, VM cử đại đoàn (sư đoàn) 308, trung đoàn 209 và một tiểu đoàn độc lập, mở hai trận phục kích riêng lẻ gần Đồng Khê, bắt được hai trung tá Lepage (8-10-1950) và Charton (10-10-1950).(7) Số tù binh Pháp bị bắt trong các trận nầy lên đến 4,000 binh sĩ, 354 hạ sĩ quan và 98 sĩ quan, trong đó có hai sĩ quan cấp trung tá.

    Từ đây, VM làm chủ vùng Cao Bằng, Đồng Khê, Thất Khê, khai thông hoàn toàn khu vực biên giới giữa Trung Quốc và chiến khu Việt Bắc của VM, tạo một vùng an toàn cho VM dọc biên giới Việt Hoa, giúp việc chuyển vận hàng viện trợ của Trung Quốc cho VM được dễ dàng.

    Sau trận nầy, Trung Quốc yên tâm rằng từ đây tàn quân QDĐTH không còn ẩn trốn trong vùng rừng núi biên giới giữa Trung Quốc với Việt Nam, liền rút đại tướng Trần Canh về Bắc Kinh tháng 11-1950. Lúc đó, chiến tranh Cao Ly (Triều Tiên) bùng nổ ngày 25-6-1950. Tháng 6-1951, Trần Canh được lãnh đạo Trung Quốc gởi qua cầm quân ở Cao Ly.

    Như thế, đảng CSTQ giúp VM và đảng CSĐD chống Pháp ở Việt Nam năm 1950 trước tiên vì nhu cầu an ninh biên giới phía nam của Trung Quốc, như trước đây nhà Thanh gởi quân qua đánh Pháp ở Bắc Kỳ để cầm chân và không cho quân Pháp tràn qua biên giới của nhà Thanh.

    Ngang hàng với các cường quốc: Đảng CSTQ làm chủ lục địa và thành lập chế độ CHNDTH ngày 1-10-1949. Lúc đó, Trung Quốc chỉ là một nước chậm tiến, nông nghiệp lạc hậu, bị các cường quốc tây phương xem nhẹ, chưa được cho thay thế ghế hội viên của Trung Hoa Dân Quốc ở Liên Hiệp Quốc.

    Sau khi hiệp ước đình chiến ở Cao Ly (Triều Tiên) được ký kết tại Bàn Môn Điếm (Panmunjon) ngày 27-7-1953, và khi chiến tranh Việt Nam càng ngày càng quyết liệt, Liên Xô đề nghị với Hoa Kỳ, Anh, Pháp họp cùng Trung Quốc vào tháng 8-1953 để giải quyết những tranh chấp còn lại ở Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam. Đề nghị nầy bị tam cường tây phương bác bỏ, vì cả ba nước không thừa nhận Trung Quốc là một cường quốc ngang hàng với họ.(8a)

    Tháng 2-1954, Liên Xô lập lại ý kiến nầy. Trước tình hình ở Đông Dương càng ngày càng xấu về phía quân đội Liên Hiệp Pháp và càng ngày càng thắng thế về phía bộ đội VM, Hoa Kỳ, Anh, Pháp đành phải chấp nhận mời Trung Quốc đến họp để giải quyết chuyện Đông Dương.( 8b)

    Dầu vậy, các nước Tây phương vẫn chưa xem trọng Trung Quốc. Trưởng phái đoàn Hòa Kỳ đầu tiên tại hội nghị Genève là ngoại trưởng John Foster Dulles. Khi gặp trưởng phái đoàn Trung Quốc tại Genève là thủ tướng kiêm ngoại trưởng Châu Ân Lai, John Foster Dulles vẫn không thèm bắt tay xã giao.(9)

    Như thế, từ một nước mới được thành lập, kinh tế lạc hậu, nhờ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc được ngồi ngang hàng với các cường quốc Tây phương tại hội nghị Genève. Đây là một thắng lợi ngoại giao quan trọng của Trung Quốc mà Trung Quốc không đóng góp xương máu trên chiến trường.

    Trong sách Đêm giữa ban ngày, tác giả Vũ Thư Hiên viết rằng trong chiến tranh chống lại miền Nam từ năm 1960, Lê Duẫn, bí thư thứ nhất đảng LĐ (năm 1976 đổi là tổng bí thư), đã từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.”(10) Thật ra, ngay từ năm 1950, VM cũng đã đánh cho Trung Quốc.

    Cố vấn hay chỉ huy: Vào thế kỷ 19, Pháp đến xâm lăng và bảo hộ Việt Nam. Nước Pháp xa Việt Nam, nằm ở miền ôn đới. Người Pháp thuộc chủng tộc da trắng, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa và văn minh khác hẳn người Việt. Người Pháp đến Việt Nam để khai thác và bóc lột, nhưng người Pháp không thích hợp với phong thổ Việt Nam, nên người Pháp ít ở lại Việt Nam.

    Sau thế chiến thứ hai tức sau năm 1945, tuy Pháp muốn tái chiếm Việt Nam, nhưng người Việt Nam luôn luôn có tinh thần độc lập, sẵn sàng đứng lên chống Pháp, như trước đây đã từng chiến đấu chống Pháp. Cuộc kháng chiến có thể khó khăn nhưng trào lưu chung trên thế giới lúc đó là giải trừ thuộc địa, nên trước sau gì nước ta cũng có thể tự lực đánh đuổi được người Pháp, mà không nhất thiết phải dựa vào Trung Quốc mới có thể thành công. Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử trước đây rất cam khổ, nhưng dân tộc Việt luôn luôn tự lực bảo vệ nền độc lập dân tộc mà không cần ngoại quốc viện trợ. Còn những lần các triều đại Việt Nam nhờ đến Trung Quốc, đều bị Trung Quốc xâm lăng. Ví dụ cuối đời Trần và cuối đời Lê là những bài học rõ nét nhất.

    Trong sách Mặt thật, tác giả Thành Tín, tức Bùi Tín, nguyên đại tá bộ đội cộng sản, nguyên phó tổng biên tập báo Nhân Dân, đã viết: “…Nếu như hồi ấy đường lối đấu tranh đại loại như của cụ Phan [Châu Trinh] đề xướng được chấp nhận và thành hiện thực thì đất nước ta có thể khác hẳn hiện nay, vừa có độc lập thống nhất, có dân chủ và phát triển, có thể tránh được chiến tranh và tránh bị cỗ máy nghiền mà chủ nghĩa Staline, chủ nghĩa Mao đã đưa đến thông qua đảng cộng sản với biết bao hậu quả nặng nề mà chưa biết đến bao giờ mới khắc phục được…” (11)

    Lịch sử bang giao Việt Hoa cho thấy rằng các nhà cầm quyền Trung Quốc nguy hiểm không kém gì thực dân Pháp, nếu không muốn nói là nguy hiểm hơn. Bằng chứng là vào thế kỷ 15, nhà Minh xâm lăng, khai thác và bóc lột Đại Việt tàn bạo không khác gì thực dân Pháp (xin xem Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi). Nhà Minh còn rất thâm độc, tịch thu hết sách vở, tài liệu, bia đá, nhân tài của Đại Việt đem về Trung Hoa, nghĩa là nhà Minh chủ trương tiêu diệt toàn bộ văn hóa Đại Việt.

    Từ thời cổ xưa, các triều đại quân chủ Trung Quốc không ngừng bành trướng lãnh thổ. Trung Quốc đã xâm chiếm và đồng hóa tất cả các nước chung quanh Trung Quốc, như Mãn Châu, Tân Cương, Mông Cổ, Tây Tạng, Vân Nam, nhưng Trung Quốc chỉ xâm lăng Việt Nam chứ không xâm chiếm được Việt Nam vĩnh viễn.

    Đối với Việt Nam, Trung Quốc luôn luôn tự tôn, cho rằng Việt Nam là phiên thuộc của Trung Quốc. Tác giả Sở Cuồng Lê Dư kể lại rằng, ngay cả nhà cách mạng Tôn Dật Tiên (Trung Quốc) cũng đã nói với chính khách Nhật Bản là tử tước Khuyển Dưỡng Nghị, tức Inukai Ki, rằng: “Người Việt Nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa họ bị chúng tôi đô hộ, ngày nay họ bị Pháp đô hộ. Dân tộc ấy không có tương lai.” (12) Dầu Tôn Dật Tiên phát biểu như thế, Việt Nam là nước duy nhất nằm sát Trung Quốc và kháng cự lại được nền đô hộ của Trung Quốc.

    Người Trung Quốc thuộc chủng tộc da vàng, có nền văn hóa và văn minh gần giống người Việt. Vì vậy, khác với người Pháp, người Trung Quốc rất dễ hòa lẫn với người Việt, nghĩa là người Trung Quốc đến Việt Nam, và có thể ở lại sinh sống tại Việt Nam.

    Dưới thời quân chủ, khoảng từ 2 đến 4 năm, do yếu thế, triều đình Việt cử sứ thần sang Trung Hoa triều cống một lần, nhưng vua nước Việt, tức nguyên thủ quốc gia, chưa bao giờ sang Bắc Kinh bệ kiến các hoàng đế Trung Hoa, trừ lần Lê Chiêu Thống lưu vong năm 1789, và Phạm Công Trị giả vua Quang Trung sang Thanh năm 1790.

    Trong khi đó, từ năm 1950 đến năm 1954, Hồ Chí Minh, nguyên thủ nhà nước VNDCCH, bốn lần sang Bắc Kinh hội kiến các lãnh tụ CSTH để xin cầu viện. Đó là các lần: 1) Đến Bắc Kinh 30-1-1950 rồi qua Moscow. 2) Đến Nam Ninh ngày 5-2-1951. 3) Đến Bắc Kinh cuối tháng 9-1952, rồi đi Moscow. 4) Đến Bắc Kinh cuối tháng 3-1954, rồi đi Moscow.

    Ngang nhiên hơn nữa, năm 1954, Châu Ân Lai gọi Hồ Chí Minh sang Liễu Châu nói là hội họp và thảo luận, nhưng thực chất là ra lệnh cho Hồ Chí Minh phải ký hiệp định Genève chia hai nước Việt Nam. Thế là Hồ Chí Minh đành nghe theo.( 13) Chưa có thời đại nào mà chính quyền Trung Hoa chi phối mạnh mẽ, gần như chỉ huy nhà nước Việt Nam như CHNDTH đối với VNDCCH.

    2.- TRONG GIAI ĐOẠN 1960-1975

    Trung Quốc xâm lăng Việt Nam: Sau khi nhờ CSTQ để chống Pháp, nhất là chuẩn bị cầu viện để tiến đánh miền Nam, đương nhiên VNDCCH phải biết điều với Trung Quốc. Sự biết điều nầy thấy rõ qua công hàm ngày 14-9-1958 do Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt ký, tán thành quyết định về lãnh hải của Trung Quốc và triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Phạm Văn Đồng ký công hàm trên phải được sự chuẩn thuận của Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng Lao Động.

    Trong khi giúp đỡ Bắc Việt để tiến đánh Nam Việt, Trung Quốc theo dõi diễn tiến tình hình chiến tranh Việt Nam, sẵn sàng chuẩn bị ra tay để thủ lợi. Ngày 27-1-1973, tại Paris bốn bên lâm chiến ở Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam) ký kết “Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam”, theo đó Hoa Kỳ rút quân hoàn toàn ra khỏi Việt Nam.

    Đây là thời cơ thuận tiện để Trung Quốc ra tay, vì Hoa Kỳ rút đi, VNCH bận rộn một mình chống đỡ những cuộc tấn công của VNDCCH và MTDTGPMN. Trung Quốc liền đưa hạm đội hùng hậu đánh chiếm hải đảo Hoàng Sa của VNCH. Biết rằng khó thắng, nhưng Hải quân VNCH do Ngụy Văn Thà chỉ huy, cương quyết bảo vệ quê hương, tiếp nối truyền thống anh dũng của tổ tiên chúng ta.

    Ngụy Văn Thà và đồng đội hy sinh. Trung Quốc một lần nữa xâm lăng Việt Nam. Bắc Việt cộng sản im lặng, không lên tiếng. Đây là khởi đầu của thời kỳ Trung Quốc tiến xuống các hải đảo phía nam.

    Trung Quốc bắt tay với Hoa Kỳ và vào Liên Hiệp Quốc: Sau hiệp định Genève (20-7-1954), Hoa Kỳ vào Việt Nam nhắm mục đích giúp Nam Việt chận đứng sự bành trướng của khối cộng sản. Sau một thời gian có mặt tại Việt Nam, từ thập niên 60, Hoa Kỳ nhận ra hai điều:

    Thứ nhất, các nước cộng sản không phải là một khối chặt chẽ, mà họ là những thực thể riêng biệt, với những quyền lợi mâu thuẫn nhau khá trầm trọng. Hoa Kỳ không bỏ lỡ cơ hội kiếm cách khai thác mâu thuẫn giữa các nước cộng sản, đúng ra là giữa Liên Xô và Trung Quốc để làm thế nào ly gián họ, và tránh cho họ xích lại gần nhau như trước. Vì vậy, người Hoa Kỳ bắt đầu xét duyệt lại chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ.

    Thứ hai, nếu Hoa Kỳ càng giúp VNCH (Nam Việt) chống lại VNDCCH (Bắc Việt), thì Liên Xô và Trung Quốc ở thế cùng liên kết để giúp Bắc Việt chống lại Hoa Kỳ, tức Hoa Kỳ tạo nên một hoàn cảnh thuận lợi cho Liên Xô và Trung Quốc tạm gác những mâu thuẫn song phương, để cùng nhau cứu giúp một nước cộng sản thứ ba. Nói cách khác, làm như thế, chẳng khác gì Hoa Kỳ tạo cơ hội cho hai nước Liên Xô và Trung Quốc xích lại với nhau.

    Trên quan niệm địa lý chính trị học (geopolitics), vào cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70, người Hoa Kỳ còn ngộ ra rằng “Bắc Việt không thể tàn phá Hoa Kỳ trong vòng nửa giờ, hoặc tiêu hủy các thành phố, giết một nửa dân số, nhưng với hỏa tiển nguyên tử, Liên Xô có thể làm được việc đó. Trung Quốc tuy chưa ngang tầm của Liên Xô vì ít vũ khí nguyên tử, nhưng lại đe dọa phần còn lại của Á châu vì ý hệ chính trị cứng rắn và vì dân số đông đảo của họ.”(14 a)

    Chẳng những thế, các chính trị gia Hoa Kỳ lúc đó còn đi xa hơn, cho rằng “hy sinh Việt Nam mới thật là đáng giá. Còn hơn là hao phí thêm nhiều sinh mạng người Mỹ và hàng tỷ mỹ kim để chống đỡ Việt Nam với chẳng có hy vọng thắng lợi, tại sao không thỏa thuận thua cuộc để đổi lấy sự mở cửa của Trung Quốc nhắm làm yếu đi kẻ thù thực sự là Liên Xô.”(14b)

    Chính vì vậy, Hoa Kỳ đã thay đổi chiến lược toàn cầu, bắt đầu rút lui khỏi Việt Nam và kiếm cách bắt tay với Trung Quốc. Bill Sullivan, nguyên là đại sứ Hoa Kỳ tại Lào, lúc đó là thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương, trong một cuộc phỏng vấn, đã cho biết kết quả cuộc chuyển hướng ngoại giao của Hoa Kỳ: “Làm cho người Trung Quốc tách rời khỏi Liên Xô và nghiêng về phía chúng ta, đối với chúng ta còn quan trọng hơn nhiều việc chiến thắng ở Việt Nam.” (14b)

    Sự giao thiệp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt đầu bằng cuộc đấu bóng bàn giao hữu giữa hai đội bóng bàn Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày 14-4-1971 dưới sự tiếp đón và chứng kiến của thủ tướng Châu Ân Lai tại Đại sảnh đường Nhân dân Bắc Kinh. Sau đó, ngày 9-7-1971, Henri Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Hoa Kỳ, có mặt ở Bắc Kinh và được Châu Ân Lai tiếp kiến.

    Ngày 25-10-1971, Đại hội đồng thứ 26 của Liên Hiệp Quốc biểu quyết chấp nhận CHNDTH được giữ ghế đại biểu Trung Quốc thay cho Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) mà không bị Hoa Kỳ phủ quyết, nghĩa là Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan, đồng minh lâu năm của Hoa Kỳ, để bắt tay với CHNDTH. Cần để ý thêm là Trung Quốc là hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, có quyền bỏ phiếu phủ quyết những vần đề quan trọng đưa ra trước Liên Hiệp Quốc.

    Sau đó, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon viếng thăm Trung Quốc một tuần bắt đầu từ ngày 21-2-1972 mà Nixon cho rằng đây là “một tuần lễ sẽ làm thay đổi thế giới.”(15) Cuộc viếng thăm nầy đưa đến “Thông cáo chung Thượng Hải” ngày 28-2 theo đó hai bên đưa ra những quan điểm hoàn toàn khác nhau, chỉ trừ một điều là cùng nhau tôn trọng sự khác biệt giữa hai bên và hứa sẽ kiếm cách cải thiện bang giao song phương.

    Như thế, rõ ràng Trung Quốc lợi dụng Bắc và Nam Việt Nam đang đánh nhau trong giai đoạn từ 1960 đến 1975 để đánh chiến hải đảo Hoàng Sa, mở đầu cuộc bành trướng xuống phương nam. Đồng thời cũng nhờ chiến tranh Việt Nam lần nầy, Trung Quốc bắt tay được với Hoa Kỳ, được vào Liên Hiệp Quốc, được giữ ghế thường trực tại Hội đồng bảo an. Từ đó, quan trọng nhất là Trung Quốc thoát ra khỏi tình trạng bị cô lập, mở mang giao dịch với các nước trên thế giới và càng ngày càng thăng tiến trong sinh hoạt chính trị quốc tế.

    KẾT LUẬN

    Trong chiến tranh ba mươi năm vừa qua trên đất nước Việt Nam (1946-1975), có thể nói Trung Quốc đã hưởng lợi tối đa nhờ Trung Quốc đã viện trợ võ khí, đạn dược, quân trang quân dụng và làm cố vấn về chính trị lẫn quân sự cho VNDCCH từ 1950 trở đi.

    Thành lập năm 1949, tuy vẫn còn là một nước lạc hậu về kinh tế, nhờ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc được xếp ngang hàng với các cường quốc Tây phương năm 1954, bắt tay với Hoa Kỳ và vào Liên Hiệp Quốc năm 1971, giải tỏa thế cô lập, và thăng tiến nhanh chóng trên đường giao thương quốc tế.

    Riêng đối với Việt Nam, cả ngàn năm qua, các triều đại Trung Quốc phải đem binh hùng tướng mạnh để chinh phục nước Việt, nhưng đều thất bại. Người Việt luôn luôn bảo vệ chủ quyền đất nước, gìn giữ độc lập dân tộc. Từ năm 1950, khi cầu viện Trung Quốc để chống Pháp, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD đã tự hạ mình làm phiên thuộc, thần phục Trung Quốc, hoàn toàn vâng lệnh Trung Quốc, từ những phong trào chính trị như rèn cán chỉnh quân (chỉnh huấn), cải cách ruộng đất (thổ cải), đến những chiến dịch hành quân, kể cả chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.(16) Chưa bao giờ nhà cầm quyền Trung Quốc kiểm soát Việt Nam chặt chẽ như vậy.

    Cũng cả hàng ngàn năm qua, biết bao nhiêu lần Trung Quốc muốn chinh phục Việt Nam để tìm đường xuống Đông Nam Á, nhưng đều bị đẩy lui. Cho đến thế kỷ 20, vì thần phục Trung Quốc, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và đảng Lao Động đã ký công hàm tán thành quyết định về lãnh hải của Trung Quốc và triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, mở đường cho Trung Quốc xuống phía nam. Sau đó, năm 1974 Bắc Việt và đảng Lao Động đồng lõa làm ngơ để Trung Quốc thôn tính hải đảo Hoàng Sa, cam tâm nhìn người nước ngoài xâu xé một phần lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam kính yêu.

    Cả ngàn năm qua, các vua chúa Trung Hoa không chiếm được một tấc đất của Việt Nam, không làm sụp đổ ải Nam Quan. Chỉ đến thế kỷ 20, CSTQ chiếm đất, chiếm đảo của chúng ta, không phải do tài ba của CSTQ, mà do Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo CSVN, rước voi về giày mộ tổ, đúng theo kế hoạch thâm độc của cường quyền phương Bắc là “dĩ Việt chế Việt” (dùng người Việt chế ngự người Việt).

    Như thế, trong chiến tranh ba mươi năm vừa qua trên đất nước Việt Nam, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD nhờ CSTQ để đánh Pháp, không khác gì nhờ một kẻ cướp đuổi một tên trộm. Tên trộm bỏ chạy thì kẻ cướp vào nhà. Đây không phải chỉ là những sai lầm chiến lược của Hồ Chí Minh và đảng Lao Động Việt Nam, mà đây chính là tội lỗi phản quốc lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ cổ chí kim. Những tội lỗi nầy hiện đưa đến những hậu quả tai hại mà người Việt Nam ngày nay đang phải đối mặt.

    TRẦN GIA PHỤNG
    (21-12-2008)

    CHÚ THÍCH

    1. Trung Tâm Từ Điển Bách Khoa Quân Sự, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504.
    2. Tiền Giang, “Chu Ân Lai và Hội nghị Genève”, Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, chương 27, bản dịch của Tam Dương, “Hội nghị Liễu Châu then chốt”, tạp chí Thế Kỷ 21, California: số 219 (7-2007) và số 220 (8-2007).
    3. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, Tập I-C: 1955-1963, Houston: Nxb. Văn Hoá, 2000, tt. 152, 180.
    4. Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tr. 13 (4a), tr. 17 (4b).
    5. Bernard Fall, Le Viet-Minh, Paris: Max Leclerc et Compagnie, 1960, tr. 119.
    6. Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn: 1965, California: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 62.
    7. Qiang Zhai, sđd. tt. 29-31.
    8. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, Tập B: 1947-1954, Houston: Nxb. Văn Hoá, 1997, tr. 334 (8a), tr. 370 (8b).
    9. Henry Kissinger, White House Years, Toronto: Little, Brown and Company, 1979, tr. 1054.
    10. Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày (hồi ký chính trị của một người không làm chính trị), Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422, phần chú thích.
    11. Thành Tín, Mặt thật, USA: Nxb. Saigon Press, 1993, tr. 102.
    12. Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, [nguyên bản bằng Anh văn], bản dịch của Mạc Định, Paris: 1962, tr. 22.
    13. Tiền Giang, báo đã dẫn.
    14. Roger Warner, Shooting at the Moon [Bắn trăng], Steerforth Press, South Royalton, Vermont, 1996, tr. 333-334 (14a), 336 (14b).
    15. John S. Bowman, tổng biên tập, The Vietnam War, Day by Day [Chiến tranh Việt Nam, việc từng ngày], Mallard Press, New York, 1989, tr. 190.
    16. Được tin Pháp chiếm Điện Biên Phủ (ĐBP) ngày 22-11-1953, tướng Vi Quốc Thanh, đứng đầu bộ tư lệnh cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam, một mặt yêu cầu VM đưa quân bao vây ĐBP, một mặt báo về Bắc Kinh. Bắc Kinh cho rằng chiến dịch ĐBP chẳng những quan trọng về quân sự và chính trị, mà còn ảnh hưởng quốc tế, nên hứa hẹn sẽ viện trợ cho VM tối đa để tấn công ĐBP. Từ đó, Bắc Kinh tăng viện võ khí, cao xạ, gởi cả những chuyên viên đào chiến hào đã có kinh nghiệm trong chiến tranh Triều Tiên sang giúp VM. Đồng thời Bắc Kinh và bộ tư lệnh cố vấn Trung Quốc chỉ huy thật sát chiến dịch ĐBP.(Qiang Zhai, sđd. tt. 46-49.)

    Trả lờiXóa
  24. Nặc danh9/1/09 13:11

    Nhìn lại 50 năm công hàm ban' nuoc cua Phạm Văn Đồng:

    Sau này, vào những năm cuối đời, ông Phạm Văn Đồng biện bạch cho việc ông phải ký công hàm bán nước năm 1958 là vì lúc đó đang thời chiến. Vào năm 1958 không có cuộc chiến tranh nào cả.

    Ngày 4 tháng 9 năm 1958 chính phủ Trung Quốc ra tuyên cáo mở rộng lãnh hải của họ từ 3 hải lý thành 12 hải lý, áp dụng cho tất cả các lãnh thổ và hải đảo của Trung Quốc, trong đó họ bao gồm cả Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Mười ngày sau, ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng cộng sản Việt Nam, gửi công hàm cho thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc, tán thành tuyên cáo nói trên, mà không hề có lời phản bác nào trước việc Trung Quốc ngang nhiên xem Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của họ. Hơn một tuần sau, báo Nhân Dân ra ngày 22 tháng 9 đăng toàn văn công hàm vừa kể, để toàn đảng, toàn dân và thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa.

    Bức công hàm tuy chỉ dài 121 chữ, nhưng nói rất rõ là chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, tức cộng sản Việt nam, chẳng những “ghi nhận”, “tán thành” mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận của Trung Quốc bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Như vậy, ngay trên văn bản này, ông Phạm Văn Đồng đã không nhân danh cá nhân ông, mà thay mặt cho chính phủ cộng sản Việt Nam ký kết. Trên thực tế, trong cương vị Thủ tướng, ông Phạm văn Đồng phải là người ký công hàm. Nhưng người ta đều biết, ông ta không phải là người tự quyết định, mà chỉ thừa hành quyết định chung của 11 người trong Bộ chính trị hồi đó, mà người đứng đầu là ông Hồ Chí Minh. Sau 32 năm ngồi ghế thủ tướng, khi về vườn, ông Phạm Văn Đồng đã gián tiếp xác nhận điều này qua lời than thở rằng, ông chẳng có quyền hành gì cả.

    Sau này, vào những năm cuối đời, ông Phạm Văn Đồng biện bạch cho việc ông phải ký công hàm bán nước năm 1958 là vì lúc đó đang thời chiến. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm cũng đã đưa ra những lời biện bạch tương tự, và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992. Ông Nguyễn Mạnh Cầm cho rằng, việc cộng sản Việt Nam ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là cần thiết, vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc. Cả hai lời biện bạch này vừa là những lời nói dối, vừa cho thấy sai lầm to lớn của đảng cộng sản Việt Nam, căn nguyên đưa đến sự bại liệt của nước ta hiện nay. Vào năm 1958 không có cuộc chiến tranh nào cả. Lúc đó miền Nam chỉ có một ít cố vấn Mỹ, không nhiều gì hơn số cố vấn Nga, Tàu ở miền bắc. Nhưng đảng cộng sản Việt Nam đã hoạch định cuộc xâm lăng miền Nam, gọi là cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” tại đại hội đảng lần thứ 3, năm 1959. Chính cuộc chiến mà ông Hồ Chí Minh và nhóm lãnh đạo cộng sản nhất định phải tiến hành cho bằng được, dù có phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”, đã tàn phá đất nước, làm kiệt quệ sinh lực dân tộc. Rồi sau đó, với những sai lầm liên tiếp khác, đảng cộng sản Việt Nam đã đưa đất nước xuống hố sâu của sự khánh kiệt mọi mặt; đành phải thúc thủ trước sự hung hăng của Trung Quốc. Ngày nay người ta đều phải thừa nhận là, miền nam trước kia dù phải chịu đựng chiến tranh, nhưng cũng đã phát triển ngang hàng hoặc hơn các nước trong vùng. Nếu cộng sản Việt Nam đừng gây ra cuộc chiến, thì đến nay chắc chắn miền Nam đã phát triển, hùng cường không thua kém gì Đại Hàn. Trong tình hình đó, liệu Trung Quốc có dám khinh thường Việt Nam như hiện nay không?

    Trở lại bức công hàm bán nước năm 1958; 20 năm sau; bộ ngoại giao của Hà Nội ra tuyên bố cho rằng, công hàm đó chỉ mang tính chất ngoại giao. Cùng năm đó, báo chí đăng tin ông Lý Tiên Niệm, phó thủ tướng Trung Quốc nói rằng : “80 năm sau Trung Quốc mới nói chuyện Hoàng Sa, Trường Sa với Việt Nam”. Lời tuyên bố này khiến người ta phải tự hỏi, liệu còn những mật ước dâng nhượng đất đai khác của Hà Nội mà Bắc Kinh chưa tiết lộ không? Nhìn vào sự thậm thụt của cộng sản Việt Nam trong các hiệp định trên bộ năm 1999 và trên biển năm 2000, thì nghi vấn vừa kể không phải là vô căn cứ. Thỉnh thoảng, khi không bằng lòng đàn em ở Hà Nội, Bắc Kinh lại xì ra thêm một vài dữ kiện, mà Hà Nội phải ngậm bồ hòn làm ngọt.

    Thực ra, công hàm năm 1958 không phải là dữ kiện duy nhất về sự bán nước của cộng sản Việt Nam. Tháng 02 năm 1972, Cục Ðo đạc và Bản đồ thuộc phủ thủ tướng cộng Sản Việt nam, khi ấn hành bản đồ thế giới đã xóa tên Hoàng Sa và Trường Sa, thay vào đó là tên Tây Sa và Nam Sa. Trong khi đó, thư viện của Trung Hoa Dân Quốc (tức Đài Loan) vẽ bản đồ Việt Nam từ năm 1947, có cả Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 5 năm 1976 báo Sài Gòn Giải Phóng, trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực hồi tháng giêng năm 1974, đã viết rằng: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi!”. Sách địa lý xuất bản năm 1974; trong bài "Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa" có viết rằng "chuỗi hải đảo từ Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) tới Hải Nam và Đài Loan là bức tường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc".

    Nhìn lại năm mươi năm, khởi đi từ bức công hàm bán nước năm 1958 , và các hành vi bán nước khác của đảng cộng sản Việt Nam sau đó, cùng với những sai lầm nghiêm trọng, đã làm cho đất nước suy vong, dân tộc mất sức đề kháng ngoại xâm, điều người ta khẳng định được là, không ai khác, chính Đảng cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử về tình trạng này. Trong đó, dù muốn dù không, công hàm năm 1958 tự nó đã vô hiệu hoá chủ quyền chính đáng của Việt nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Kéo theo những thiệt hại khác của dân tộc. Do đó, văn bản này cần phải được huỷ bỏ. Đây là điều cộng sản Việt Nam phải thực hiện, hầu phần nào chuộc tội bán nước mà đảng đã làm từ nửa thế kỷ qua.

    Nguồn:
    http://www.radiochantroimoi.com/spip.php?article4326

    Ha noi
    2008-09-12 10:38:06

    Trả lờiXóa
  25. Nặc danh9/1/09 13:13

    THE' KET CUA DANG CSVN HIEN NAY:

    Hiện nay, cuộc đấu tranh trong nước gồm nhiều mặt:

    1) Cuộc đấu tranh của dân oan đòi lại đất đai bị CSVN cướp đoạt cách bất công bằng những đơn khiếu kiện, bằng những cuộc biểu tình, đặc biệt tại Hà Nội và Sàigòn.

    2) Cuộc đấu tranh của người công nhân bị bóc lột qua các cuộc đình công khắp nơi trong nước.

    3) Cuộc đấu tranh của các nhà dân chủ đòi CSVN phải thực thi dân chủ đa nguyên và tôn trọng các quyền làm người của người dân.

    4) Cuộc đấu tranh của giới trí thức, sinh viên chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa Trường Sa, đồng thời lên án hành động bán nước của CSVN qua việc bán đất nhượng biển cho Trung Quốc.

    5) Cuộc đấu tranh của Tòa TGM Hà Nội và giáo dân Thái Hà đòi lại đất đai và cơ sở bị CSVN cướp đoạt mấy thập niên qua.

    Ba cuộc đấu tranh của dân oan, công nhân, và các nhà dân chủ − đặc biệt của Khối 8406 − là cuộc đấu tranh thường hằng mà CSVN phải điên đầu đối phó suốt nhiều năm qua. Hai cuộc đấu tranh sau chỉ mới nổi lên gần đây nhưng lại dồn CSVN vào ngõ bí. Tất cả những cuộc đấu tranh ấy đều được các nhà dân chủ − đặc biệt các thành viên Khối 8406 − sẵn sàng yểm trợ, tiếp tay, đưa tin vì chúng luôn luôn tạo lợi thế cho cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền.

    Hai cuộc đấu tranh xảy ra mới đây − Vụ Thái Hà đòi đất và vụ sinh viên biểu tình chống Trung Quốc − đã tạo cho nhà cầm quyền CSVN lâm vào thế kẹt, vì:

    − Vụ Tòa Khâm Sứ và Thái Hà: CSVN đã lỡ cướp đất của Giáo Hội từ mấy thập niên trước. Tưởng nuốt trôi được những mảnh đất ấy, CSVN đã sang tay cho các chủ mới − thường là những tay tư bản đỏ, những cán bộ cấp cao trong đảng CSVN − với giấy tờ “hợp pháp” hẳn hoi, và tiền thu được đã chia chác nhau và thành của riêng hết. Nay đảng CSVN đang thời suy tàn, móng vuốt không còn sắc bén và mạnh mẽ như “thuở tung hoành hống hách những ngày xưa” thì Tòa Giám mục Hà Nội và giáo dân Thái Hà lại lên tiếng đòi đất lại với những chứng cứ, giấy tờ hợp pháp về chủ quyền những miếng đất bị cướp. Để đối phó, CSVN đã tìm đủ mọi thủ đoạn gian trá, du côn, thậm chí hèn hạ và tiểu nhân tới cùng cực: nào là ngụy tạo giấy tờ giả, bằng chứng giả, nào là dùng truyền thông độc quyền để vu khống, nào là cho công an tay sai và xã hội đen đến đánh đập khủng bố giáo dân Thái Hà, v.v... Tưởng dùng kế “cả vú lấp miệng em”, “sức mạnh phát xuất từ đầu súng” là sẽ giải quyết được thế bí. Nhưng những “bài cũ soạn lại” ấy đã không thành công. Kẻ cướp không sao chứng minh được cách thuyết phục việc cướp đoạt bất hợp pháp của mình là hợp pháp, hợp lý, cũng không sao chấm dứt cuộc tranh đấu rõ ràng là đầy chính nghĩa này.

    Như vậy, có muốn trả lại đất cho Thái Hà và Tòa Giám Mục thì lấy đất đâu ra mà trả? Giả như có đất để trả thì cũng không trả được, vì nếu trả cho giáo xứ này, tôn giáo này thì các giáo xứ khác, các tôn giáo khác được thể sẽ ra sức đòi cho bằng được… Đảng CSVN sẽ lâm vào thế hết sức kẹt. Nhưng nếu không trả lại đất cho Thái Hà và Tòa Giám Mục thì họ cứ tranh đấu hoài; điều này làm CSVN bị mất mặt với thế giới. Dùng biện pháp mạnh để giải tán thì bị mang tiếng là đàn áp tôn giáo, bị đưa lại vào danh sách CPC; điều này khiến đảng và cá nhân các đảng viên sẽ bị thiệt hại biết bao quyền lợi!!! Thật là thiên nan vạn nan!

    − Vụ biểu tình chống Trung Quốc: Việc CSVN bán đất nhượng biển cho Trung Quốc rõ ràng là một hành động bán nước mà hiện nay không sao ém nhẹm được nữa. Người dân trong nước đã nhìn thấy rất rõ ràng đảng CSVN thực chất chỉ là một đảng cướp, chỉ khác với những đảng cướp khác ở chỗ đã cướp được chính quyền mà thôi. Một đằng thì đảng này cướp đoạt đất đai, tài sản của dân, kể cả những người dân nghèo khổ nhất, đằng khác họ lại sẵn sàng dâng đất biển của tổ quốc cho quan thầy ngoại bang − vố là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc − chỉ để giữ vững ngai vàng. Đúng là “đội trên đạp dưới”, đảng chẳng hề vì dân vì nước một chút nào mà chỉ vì lòng tham vô đáy cố hữu của một đảng cướp chính hiệu.

    Việc biểu tình chống Trung Quốc chiếm đất chiếm biển rõ ràng là một hành động yêu nước và hết sức chính đáng mà đảng CSVN không có lý do gì chính đáng để dẹp bỏ. Nhất là việc CSVN bán đất nhượng biển cho Trung Quốc đang làm người Việt trong nước cũng như hải ngoại phẫn nộ, và sẵn sàng đoàn kết để chống lại. Tuy nhiên đảng vẫn cố gắng hết mức dẹp bỏ mọi cuộc biểu tình bằng những hành vi hết sức phi lý, dã man, tàn bạo. Sở dĩ đảng không thể để yên cho sinh viên bầy tỏ lòng yêu nước chính đáng như thế vì điều này rất nguy hiểm cho sự tồn tại của đảng. Đảng đã lỡ lén lút ký kết những mật ước bán đất bán biển cho Trung Quốc rồi, bây giờ Trung Quốc đang đòi đảng thực thi mật ước ấy. Không thi hành những mật ước ấy thì không xong với cái đảng quan thầy của mình, vốn cũng là một đảng cướp vừa mưu mô quỷ quyệt, vừa tàn ác không kém gì mình. Không khéo thì Trung Quốc sẽ lấy cớ đó để xâm lăng Việt Nam bằng quân sự! Điều này rất nguy hiểm vì như thế toàn bộ lãnh đạo đảng CSVN sẽ bị Trung Quốc đưa ra xử tội hết. Lúc đó vừa mất nước lại vừa mất đảng! Đáng sợ nhất là bản thân của các thành viên Bộ Chính Trị cũng chẳng được an toàn: chẳng những mất của cải, nhà cửa, mất tất cả những gì đã cướp được suốt bao năm mà còn có thể mất cả mạng nữa!

    Đảng CSVN bây giờ đang ở trong thế bị ép ở giữa: một đằng người dân ép lên, một đằng quan thầy Trung Quốc ép xuống. Đảng không biết phải xử trí cách nào! Vì thế, biểu tình phản đối âm mưu chiếm đất của Trung Quốc, đồng thời tố cáo tội bán nước quá rõ ràng của đảng CSVN, là làm cho đảng CSVN lâm vào một thế hết sức bí, kẹt.

    Do đó, giữa hai vụ việc trên − vụ Thái Hà và vụ chống Trung Quốc − vụ sau quan trọng và nguy hiểm hơn rất nhiều, vì nó đe doạ trực tiếp và trầm trọng tới sự sống còn của chế độ. Do đó, CSVN nhất quyết phải dẹp biểu tình của sinh viên với bất cứ giá nào, bất chấp việc biểu tình ấy có chính nghĩa hay chính đáng tới đâu, và bất chấp phải dùng những thủ đoạn đê hèn bỉ ổi nào! Và cũng phải dẹp ngay − bất chấp việc phải dùng bạo lực − những nhà đấu tranh dân chủ nào hó hé phản đối chuyện hết sức nhạy cảm này, cho dù chỉ là tọa kháng hết sức ôn hòa ngay trước cửa nhà mình như trường hợp cô Phạm Thanh Nghiên. Để dẹp ngay từ trong trứng nước âm mưu biểu tình chống Trung Quốc của sinh viên, một đằng đảng đã bắt bớ ngay lập tức một loạt những nhà đấu tranh dân chủ mà họ nghi ngờ là những người đứng đằng sau, thúc đẩy cuộc biểu tình của sinh viên (1*); đằng khác khủng bố những sinh viên nào biểu tình, quay phim đoàn biểu tình để sau đó “bắt nguội”, dọa đuổi học những sinh viên tham gia, tìm bắt những sinh viên lãnh đạo hay hô hào biểu tình, ráng quy kết họ tội phá rối trật tự công cộng…

    Vả lại, vụ Thái Hà và vụ biểu tình chống Trung Quốc, không thể xử trí hai vụ quá khó khăn này cùng một lúc được. Do đó, cần phải thanh toán trước mối nguy hiểm lớn hơn − là việc chống Trung Quốc và phản đối hành động bán nước của họ − để họ rảnh tay xử trí vụ Thái Hà + Tòa Khâm Sứ. Thời gian Hoa Kỳ và các chính khách nước này bận túi bụi với việc bầu cử tổng thống là thời gian thuận lợi nhất để ra tay thực hiện việc thanh toán này, vì các chính khách này không còn đầu óc và thì giờ để phản đối hay ngăn chặn vụ này.

    Bất chấp dân chúng bất mãn nhất là giới Công giáo, bất chấp dư luận quốc tế khiến Việt Nam có thể bị đưa trở lại danh sách CPC, CSVN cố tình đàn áp mạnh tay giáo dân Thái Hà, vu cáo và hăm dọa Tổng Giám mục Hà Nội, biến hai khu đất của Giáo Hội Công giáo thành công viên. Mục đích của họ là làm cho dư luận quốc tế cũng như sự quan tâm người Việt trong và ngoài nước tập trung vào việc này mà bớt chú tâm tới tội bán đất nhượng biển của CSVN đang dồn đảng CSVN vào thế rất kẹt. Nhờ vậy, áp lực đè trên họ về việc này phần nào giảm bớt.

    Việc biến đất của Tòa Khâm Sứ và của giáo xứ Thái Hà thành hai công viên cây xanh cũng là một lối hoãn binh và thoát hiểm rất khôn ngoan của đảng CSVN. Trong việc thoát hiểm này, đảng CSVN đành phải lùi một bước là buộc các chủ mới của những miếng đất trên, vốn là những đảng viên cao cấp trong đảng, phải tạm thời hy sinh mối lợi riêng của mình để cứu lấy đảng trước đã, chuyện lợi riêng thì hạ hồi phân giải. Nếu biến hai miếng đất cướp được kia thành công viên thì hầu chắc sẽ được người dân Hà Nội ủng hộ, vì công viên phục vụ lợi ích chung: người dân Hà Nội có chỗ thoáng mát để tập thể dục, giải trí, nghỉ ngơi… Đảng lại còn được tiếng là lo cho dân. Một khi dân ủng hộ việc làm này thì họ sẽ không còn ủng hộ việc đòi đất của Tòa Giám mục Hà Nội và giáo dân Thái Hà nữa. Đợi khi tình hình lắng dịu, đảng sẽ tìm cách trả lại đất cho chủ mới vốn cùng “phe” với mình.

    Đương nhiên, Tòa Giám Mục và giáo dân Thái Hà không chấp nhận để CSVN lường gạt dễ dàng như vậy. Họ đã bị CSVN lường gạt quá nhiều lần, họ sẽ không ngây thơ và thiếu trí đến nỗi để CSVN lường gạt thêm lần nữa. Chắc chắn họ sẽ tiếp tục đấu tranh. Nếu Thái Hà và Tòa Giám mục cứ nhất quyết đấu tranh, CSVN sẽ phải suy nghĩ để tìm ra những cách thoát hiểm khác, chẳng hạn tìm cách tạo sự ganh tị, chia rẽ giữa các tôn giáo để các tôn giáo đánh phá lẫn nhau. Cũng như trước đây, đảng đã ra lệnh cho bọn tay sai tại hải ngoại và trong nước giả danh Phật giáo tung tin vô căn cứ rằng đất của Giáo Hội Công giáo bị CSVN cướp đoạt vốn là đất của Phật giáo trước đây nên đúng ra phải trả lại cho Phật giáo là một thí dụ điển hình. Nếu các tín đồ tôn giáo không sáng suốt hoặc cảnh giác thì sẽ mắc bẫy! Họ có thể tìm ra những cách thoát hiểm “thần sầu” mà những người đấu tranh khó mà đoán trước được. Chính vì thế, các tôn giáo cần phải đoàn kết, hợp lực với nhau chống lại kẻ gây ác cho xã hội, cho đất nước, đừng mất năng lực vào việc chống báng nhau.

    Lênin, ông tổ của chủ nghĩa cộng sản nói: “Ở đâu có bất công, ở đó có đấu tranh”, điều đó có nghĩa: bất công là mầm mống gây ra đấu tranh. Từ trước đến nay, đảng CSVN đã gây ra cho nhân dân biết bao bất công từ những tội ác do lòng tham của họ. Nhưng họ đã cố gắng hết sức dùng khủng bố để kiềm chế, không cho đấu tranh bùng phát, đồng thời họ vẫn tiếp tục gia tăng bóc lột, cướp đoạt, gây bất công… Ít ra cho đến nay họ đã khá thành công trong việc vừa gia tăng bất công vừa kềm hãm đấu tranh. Sự thành công ấy chỉ làm cho lòng dân ngày càng căm hờn, oán thán… Họ tưởng họ có thể tiếp tục làm như thế mãi. Nhưng khi thế lực của họ bắt đầu suy yếu thì đó cũng là thời họ phải “trả quả”. Đó chính là lúc họ không còn đủ sức mạnh để ngăn chặn thế “tức nước vỡ bờ” của lòng căm thù nơi người dân nữa. Sức mạnh của CSVN chắc chắn có hạn, và khả năng chịu đựng của người dân đương nhiên cũng có hạn. Thiết tưởng người cộng sản nên biết điều ấy!

    New York, ngày 03/10/2008

    [1] Trong đợt này (tháng 9/2008), CSVN đã bắt giam hơn một chục nhà đấu tranh đấu tranh năng nổ hoạt động như Nguyễn Xuân Nghĩa (Hải Phòng), Phạm Thanh Nghiên (Hải Phòng), Phạm Văn Trội (Hà Tây), Nguyễn Văn Túc (Thái Bình), Ngô Quỳnh (Bắc Giang), Trần Đức Thạch (Nghệ An), Vũ Hùng (Hà Tây), Lê Thanh Tùng (Hà Nội), Nguyễn Văn Tính (Hải Phòng), Nguyễn Mạnh Sơn (Hải Phòng), Hà Phương (Hải Phòng), Nguyễn Kim Nhàn (Bắc Giang)…

    Trả lờiXóa
  26. Nặc danh9/1/09 13:16

    Chính Phủ Ở Việt Nam Hiện Nay Là Một Chính Phủ Phản Động, Bất Hợp Pháp:

    Chính phủ CHXHCN Việt Nam hiện nay là một chính phủ bất hợp pháp,

    Chính phủ phản động nhất trong thế kỷ XXI, thế kỷ công dân…

    Tính bất hợp pháp của Chính phủ CHXHCN Việt Nam hiện nay được thể hiện rõ như sau :

    Theo định nghĩa và nguyên tắc hình thành một nhà nước phải căn cứ dựa trên bộ luật cơ bản của quốc gia là hiến pháp .

    Theo đó, chính phủ hiện nay của Việt Nam được hình thành và tồn tại căn cứ vào Hiến pháp 1992. Nhưng Hiến pháp 1992 do cộng sản Việt Nam nặn ra và là bản hiến pháp của cộng sản VN chứ không phải hiến pháp của nhân dân Việt Nam thông qua. Đó là bản hiến pháp bất hợp pháp, hiến pháp cuội mà toàn dân Việt Nam hiện nay không hề biết, không hề chấp nhận.

    Hiến pháp bất hợp pháp này không được hình thành theo đúng trình tự qui định ra đời hợp pháp cho một bản hiến pháp. Đặc biệt là bản hiến pháp này chưa được toàn dân Việt Nam chấp thuận. Không có tính kế thừa hợp hiến, hợp pháp từ hiến pháp năm 1946 do Quốc hội lập quốc và lập hiến đã được toàn dân Việt Nam trực tiếp bầu cử và lựa chọn năm thộng qua ngày 09.11.1946.

    Chính Phủ CHXHCNVN hiện tại được hình thành và tồn tại tại Chương VIII (từ Điều 109 đến Điều 117 về Chính Phủ) của Hiến pháp 1992. Chính phủ tồn tại căn cứ trên Hiến pháp 1992 mà bản thân bản Hiến pháp 1992 là bất hợp pháp, đương nhiên chính phủ đó trở thành một chính phủ bất hợp pháp.

    Từ sự hành thành và tồn tại một cách bất hợp pháp, chính phủ bất hợp pháp CHXHCN Việt Nam để tự bảo vệ và được tồn tại phi pháp trước mặt nhân dân Việt Nam và nhân dân cũng như các chính phủ trên toàn thế giới đã có những hành động “phi pháp” đối với đất nước và nhân dân Việt Nam, với những hành động phi pháp này (sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau) và thực tế chính phủ CHXHCN Việt Nam đã trở thành “chính phủ phản động” đối với tổ quốc và nhân dân Việt Nam.

    Trong lịch sử hình thành đất nước Việt Nam độc lập, tự do, thì chỉ có bản Hiến pháp 1946 do Quốc hội lập quốc và lập hiến Việt Nam thông qua với 403 Đại biểu do toàn dân Việt Nam chính thức bầu lên từ sau thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và Tuyên bố độc lập ngày 02.09.1945. Hiến pháp 1946 thông qua ngày 09.11.1946 là có giá trị pháp lý và vẫn hiện hữu.

    Tính bất hợp pháp của Hiến pháp 1992 còn có liên quan đến vấn đề sửa đổi hiến pháp, mà Điều 70 Hiến pháp 1946 đã quy định như sau :

    “Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây :

    a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu

    b) Nghi viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi

    c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng thuận thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.

    Như vậy, Hiến pháp 1992 cũng như các Hiến pháp 1959, 1980 chỉ do những người cộng sản Việt Nam tùy tiện nặn ra một cách bất hợp pháp về hình thức và nội dung, đã không theo quy định của Hiến pháp đầu tiên, ngoài ra còn có thiếu sót hết sức nghiêm trọng là không đưa ra “toàn dân phúc quyết”, tức là đã không “trưng cầu dân ý” theo như khoản c Điều 70 Hiến pháp 1946 quy định. Hiến pháp 1992 đã trở thành bản hiến pháp bất hợp pháp. Không phải là hiến pháp và sự lựa chọn của toàn dân Việt Nam.

    Cũng cần vạch trần bản chất phản động, đi ngược lại lợi ích của quốc gia và dân tộc, cũng hoàn toàn không phải sự lựa chọn của toàn dân Việt Nam của các bản hiến pháp sau Hiến pháp 1946 đều được sửa đổi theo sự chỉ đạo dựa trên quan điểm nhận thức rất sai lầm của các nhà lãnh đạo cộng sản VN: “Hiến pháp là đường lối chính trị và những chính sách lớn của Đảng được thể chế hóa” (Trường Chinh “Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1980”).

    “Hiến pháp phải là sự chọn lựa của toàn dân, và chỉ có giá trị pháp lý thật sự khi được toàn dân chuẩn thuận thông qua một cuộc trưng cầu ý dân trực tiếp”.

    Từ đó, Hiến pháp lại càng không phải do một đảng chính trị, nhất là đảng chính trị cộng sản với bản chất độc tài, độc ác mà thế giới đã biết rất rõ, áp đặt cho toàn dân. Như đảng cộng sản VN đã làm, đã áp đặt, đã khuynh đảo, chi phối Quốc hội và hiến pháp trong nhiều năm qua ở VN

    Do bối cảnh nền lập pháp non trẻ và bối cảnh lịch sử của đất nước trước sự xâm lược của ngoại bang, những người cộng sản Việt Nam đã từng sử dụng diễn đàn Quốc hội thông qua sắc lệnh về cải cách ruộng đất ở miền Bắc những năm 1950 thế kỷ trước đã gây ra biết bao thảm cảnh tàn sát nhân dân vô tôi, thậm chí tàn sát cả những người từng có nhiều công lao đóng góp cho đất nước để giành độc lập cho dân tộc.

    Đó là một hành vi phản động tiêu biểu của cộng sản Việt Nam với nhân dân của mình khi vịn vào Quốc hội bù nhìn do cộng sản chi phối và nặn ra.

    Những hành vi phản động này của những người cộng sản Việt Nam còn tiếp diễn sau này và đến hiện nay, núp dưới chiêu bài dân chủ giả tạo, hiến pháp giả hiệu và các quốc hội bù nhìn của người cộng sản giả hiệu thay mặt cho toàn dân Việt Nam.

    Ha noi
    2008-06-26 07:12:50

    Trả lờiXóa
  27. Nặc danh9/1/09 13:20

    CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC CÓ LÀM NGUY HẠI AN NINH QUỐC GIA?

    "Chống phá nhà nước làm nguy hại an ninh quốc gia" – bửu bối của chính quyền cộng sản được sử dụng để chụp mũ cho những ai có ý đồ dân chủ hóa đất nước Việt Nam này.

    Thời gian gần đầy, cùng với sự phát triển của hệ thống thông tin đa chiều - "hệ thống blogs", cộng đồng bloggers và đọc giả của họ nhắc đến rất nhiều sau khi có thông tư quản lý blogs của bộ 4T.

    Vậy, thế nào là chống phá nhà nước? Thế nào là làm nguy hại an ninh quốc gia? Chống quá nhà nước có làm nguy hại an ninh Quốc gia?

    Xin được phép mạn bàn cùng quý vị.

    Chống phá nhà nước?

    Chống phá nhà nước được hiểu là những hành vi làm trái ngược với chủ trương và chính sách nhà nước, gây khó khăn cho chính quyền trong việc điều hành và lãnh đạo đất nước, gây hao tổn về sức người lẫn tiền bạc.

    Thông thường, những hành vi đi ngược lại chủ trương và chính sách của nhà nước sẽ gây cản trở và khó khăn trong việc điều hành và lãnh đạo của chính phủ và những việc như vậy thường được coi là chống phá nhà nước.

    Thật khó có thể định nghĩa hoặc diễn giải được thế nào là cản trở chính quyền? thế nào là gây khó khăn cho việc điều hành và lãnh đạo của chính phủ? Bởi mỗi sự việc và hiện tượng luôn luôn có thể nhìn từ nhiều khía cạnh khác nhau, với nhiều cách nhìn và gốc độ khác nhau. Với người này thì hành động này là tốt, với người kia thì hành động đó lại là sai.

    Cũng có thể thấy rằng, việc chống lại các chủ trương và đường lối sai lầm của chính phủ không phải lúc nào cũng là chống đối nhà nước nếu như sự chống đối đó giúp cho chính phủ nhận ra sự sai trái và kịp thời sữa chữa sai lầm. Những việc chống đối đó phải được coi là có công với nhà nước, với nhân dân và góp phần xây dụng quốc gia ngày càng tốt đẹp.

    Chống phá nhà nước có làm nguy hại an ninh quốc gia?

    Thông thường thì việc chống phá nhà nước sẽ làm nguy hại an ninh quốc gia. Khi một chính quyền (nhà nước) vì dân vì nước, vì sự tồn vong và phát triển của dân tộc và quốc gia thì việc chống phá chính quyền chính là việc làm hại đến an nguy quốc gia vì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của quốc gia, tạo điều kiện cho thế lực thù địch quấy nhiễu và làm hại tổ quốc.

    Tuy nhiên, một khi chính quyền vì quyền lợi và địa vị của mình mà quên đi quyền lợi và sự phát triển của dân tộc, của quốc gia thì sự chống phá (chống đối) nhà nước không những không gây nguy hại cho quốc gia mà ngược lại chính là động lực để quốc gia đó tồn tại và phát triển.

    Thiên đường Việt Nam

    Trong một xã hội dân chủ, để giải quyết và phân định đúng sai, nhà nước sẽ lấy ý kiến của nhân nhân làm chủ để quyết định. Riêng tại thiên đường xã hội chủ nghĩa thì ý đảng sẽ thay ý dân bởi vì nhân dân làm chủ nhưng đảng lãnh đạo.

    Việt Nam đúng là thiên đường vì có những chuyện mà ở trần thế chẳng thể nào hiểu được. Ở Việt Nam không có ranh giới đúng sai, không có ranh giới giữa chống phá nhà nước và phat huy chính sách của chính phủ, cũng không có ranh giới giữa bán nước và bào vệ tổ quốc.

    Những người vì nước vì dân đã hi sinh thân mình để thực hiện chủ trương "xã hội của dân, do dân và vì dân" lại bị quy kết là chống phá nhà nước. Những Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân, Lên Văn Đài đấu tranh cho giai cấp công nhân thì bị quy kết là chống phá nhà nước. Những Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Hùng, lê Nguyên Sang … đấu tranh cho quyền được nói, quyền được làm chủ bản thân và quyền được sống của nhân dân cũng bị quy kết là chống phá nhà nước. Họ đã hi sinh cuộc đời mình để thực hiện theo hiến pháp và pháp luật, cho sự phát triển của dân tộc. Ấy vậy mà họ vẫn bị kết tội là chống phá nhà nước làm nguy hại an ninh quốc gia. Thật đúng là thiên đường mà, không thể hiểu được.

    Trước sự việc Trung Cộng xâm chiếm đất đai và hải đảo, nhân dân đã tập hợp biểu tình để chống đối ngoại xâm thì chính quyền lại bắt bớ và đàn áp. Họ đã chống phá nhà nước và làm nguy hại quốc gia chăng? Lại là một cái lạ nữa ở thiên đường.

    Nhìn lại hơn 30 năm xây dựng đất nước, Chính quyền cộng sản đã mang lại được gì cho nhân dân cho dân tộc? Đó là một nền kinh tế trì trệ và lạc hậu. Đó là một nền văn hóa suy đồi. Đó là một chính phủ tham nhũng, lũng đoạn trong mọi cấp độ, mọi lĩnh vực.

    Đứng trước một bá quyền Trung Cộng luôn tham lam lấn đất chiếm biển, chính quyền cộng sản đã chưa một lần dám công khai phản đối, chưa một lần dám bày tỏ thái độ. Ngược lại khi nhân dân lên tiếng thì ra tay trấn áp, bắt giữ, giam cầm.

    Nói một cách thẳng thắng thì trong hơn 30 năm qua chính phủ đã đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, đi ngược lại với quyền lợi của quốc gia và dân tộc.

    Vì vậy, khi nhân dân lên tiếng chống đối chính phủ như vậy thì không những làm nguy hại an ninh quốc quốc gia mà ngược lại phải được nhìn nhận theo hướng ngược lại – góp phần làm phát triển xã hội, phát triển quốc gia.

    Việc các nhà đấu tranh cho dân chủ nhân quyền, cho sự phát triển và tồn vong của dân tộc như Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân, Lê Nguyên Sang, Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Hùng, … tội chống phá nhà nước có nghĩa là chính quyền đã thừa nhận mình đã đi ngược lại với quyền lợi của dân tộc, của quốc gia. Và như vậy, việc kết tội họ làm nguy hại an ninh quốc gia là một sự vu khống và bịa đặt khi nhà nước đi ngược lại với chính quyền lợi của dân tộc.

    Thiết nghĩ chính quyền cộng sản không nên có thêm những hành động ẩu trĩ từ lý luận đến thực tiễn như vậy nữa.

    Anthony Le

    http://alviet.wordpress.com

    Trả lờiXóa
  28. Nặc danh9/1/09 13:23

    Một quyết định thay đổi vận mạng đất nước



    Tâm thư gởi Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Hãy thử nhận định những khó khăn trước mắt của Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam.

    1- Trung Quốc càng lúc càng xâm lấn Việt Nam một cách ngang ngược. Họ đã tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về huyện Tam Sa của họ năm rồi. Mới đây họ lại tuyên bố sẻ bỏ ra 29 tỷ đô để khai thác dầu khí ở vùng Biển Đông thuộc Việt Nam và đòi chính phủ Việt Nam phải nhường hẳn cho họ Bãi Tục Lảm thuộc tỉnh Quảng Ninh. Càng nhường, Trung Quốc càng lấn tới hơn nửa. Chủ trương giải quyết vấn đề biên giới và lảnh hải bằng thương thuyết rỏ ràng không có hiệu quả mà chỉ khiến Việt Nam càng thiệt thòi. Cứ đà này thì không những mất 2 đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà sẻ mất cả nước bởi vì tham vọng của Trung Quốc không chỉ là 2 quần đảo và dầu khí mà muốn chiếm lỉnh Việt Nam hoàn toàn để tiến xuống xâm lược các quốc gia Đông Nam Á khác như Thái Lan, Singapore, Mả Lai Á… Bởi vậy, nếu tiếp tục nhượng bộ Trung Quốc thì sẻ mất nước. Mà mất nước thì sẻ mất Đảng. Trung Quốc sẻ vắt chanh liệng vỏ như Bắc Việt đã đối xử với Mặt Trận Giãi Phóng Miền Nam. Nhưng, nếu chống trả bằng quân sự thì không dám vì Bộ Chính Trị đã bị Trung Quốc chế ngự từ lâu. Cho dù có gan làm liều thì cũng tự mình không đủ sức mạnh để đối đầu với Trung Quốc bằng quân sự. Ngoài ra, chưa kiếm đưọc đồng minh nào đủ mạnh để yểm trợ. Cho nên, vấn đề Trung Quốc là một vấn đề tiến thoái lưởng nan.

    2- Một khó khăn to lớn và không kém phần nghiêm trọng là kinh tế. Kinh tế Mỷ suy sụp khiến xuất cảng Việt Nam giảm đi nhiều. Dầu hỏa từ $150 một thùng nay giảm xuống còn $50. Đã vậy, siêu nhập cảng càng làm cán cân mậu dịch thâm thủng thêm. Trong khi đó, lạm phát vẩn còn gần 30%. Không khéo, nền kinh tế Việt Nam sẻ bị khủng hoảng vào năm 2009. Bộ Chính Trị vẩn chưa tìm ra phương án để cứu nguy nền kinh tế Việt Nam.

    3- Dân chúng trong nước đã bắt đầu mất niềm tin nơi chính quyền vì cán bộ tham nhũng, lạm quyền, cướp đất đai của dân lành và tôn giáo. Vật giá đắt đỏ khiến cuộc sống của người dân càng lúc càng khó khăn. Thêm vào đó, khi dân chúng biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Việt Nam lại bị chính phủ ngăn cấm và bắt bớ khiến lòng dân càng oán hận.

    4- Quân đội bắt đầu tỏ thái độ bất mản trước thái độ khiếp sợ Trung Quốc của Bộ Chính Trị. Quân đội chắc chắn sẻ không thụ động để Bộ Chính Trị tiếp tục bán hay nhượng đất đai và lãnh hải.

    5- Người Việt ở hải ngoại càng chống đối chế độ Cộng Sản Việt Nam hơn vì những hành vi bán nước và làm tay sai cho Trung Quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

    6- Tham nhũng vẩn còn là một quốc nạn vô phương cứu chửa. Vì chế độ độc tài nên sanh ra đặc quyền. Đặc quyền sanh ra tham nhũng. Nếu bài trừ tham nhũng cho đến nơi đến chốn, thì chẳng khác nào đảng tự sát.

    7- Quốc tế đã bắt đầu sáng mắt về nạn tham nhũng trầm trọng vô phương cứu chửa của chế độ độc tài đảng trị. Chuyện Nhật đình chỉ cung cấp vốn ODA cho Việt Nam đã làm chính phủ Việt Nam mất mặt và uy tín trên thế giới.

    8- Trước hàng trăm khó khăn trong cũng như ngoài, Đảng Cộng Sản Việt Nam lại phải đối phó tình trạng nội bộ chia rẻ, đấu đá tranh giành quyền lợi. Những vụ PMU-18 và PCI chắc là do phe phái khui ra để chơi nhau chớ người dân và báo chí làm gì có tự do, can đãm và khả năng khám phá được.

    Trước nhiều tình thế khó khăn và nan giải, tại sao các lảnh đạo trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam vẩn muốn tiếp tục cầm quyền?

    - Vì yêu nước. Chắc chắn là không. Nếu họ thật tâm yêu nước, thì họ đã cho dân chủ hóa đất nước từ lâu.

    - Vì yêu Đảng? Cũng không vì Đảng Cộng Sản Việt Nam đã mất lý tưỡng từ khi chủ nghĩa Cộng Sản đã bị đào thải ở trên thế giới và mất thần tượng từ khi có nhiều sự thật xấu xa về Hồ Chí Minh được phơi bày. Và hiện nay, tham nhủng tràn lan từ trên xuống dưới và nạn buôn bán tranh giành quyền lực chức vị đã khiến người Cộng Sản không còn tha thiết và lòng tin nơi Đảng của họ nửa. Dầu biết rằng đảng không tốt đẹp gì nhưng người ta cứ bám vào nó để kiếm tiền.

    - Vì tham lam muốn kiếm thêm nhiều tiền bạc và đất đai. Có lẻ không mà cũng có lẻ có. Mổi lảnh đạo Cộng Sản Việt Nam chắc chắn có trên hàng trăm triệu đô la. Cho nên, dầu họ có muốn kiếm thêm nửa vì lòng tham vô đáy thì cũng chỉ là lý do phụ.

    - Vì háo danh? Cũng có thể, nhưng cái danh không phải là động lực mạnh để họ tiếp tục ngồi trên đống lửa để chịu đấm ăn xôi.

    - Vì tham quyền? Có quyền lực thì họ mới có thể kiếm chát thêm nhiều hơn nửa và cũng để bảo vệ tài sản của họ. Tham quyền là nguyên nhân chánh khiến họ tiếp tục bám víu vào quyền lực. Đối với những người tài ba và đức độ, quyền lực không hấp dẩn đuợc họ. Nhưng đối với những người bất tài, thiếu đức, tiểu nhân thì họ rất ham muốn quyền lực vì quyền lực giúp họ thỏa mản được tánh tự cao tự đại, sản phẩm của lòng tự ti mặc cãm. Bởi vậy, họ mới thường vổ ngực nói rằng họ là Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người. Tóm lại, lòng tham quyền lực là động cơ chính khiến họ cố gắng bám víu quyền lực dù họ đã đang và sẻ không có khả năng đối phó và giải quyết nhiều vấn nạn của quốc gia.

    Nếu vì tham quyền mà cố vị, các lảnh đạo của Bộ Chính Trị trong một tương lai gần sẻ rơi vào một trong những trạng huống như sau:

    1- Nếu Việt Nam tiếp tục mất thêm đất đai và biển cả vì sự khiếp sợ của Bộ Chính Trị, quân đội sẻ đảo chánh và họ có thể bị quân đảo chánh bắn chết để trừ hậu hoạn.

    2- Nếu Bộ Chính Trị tiếp tục ngăn cấm biểu tình chống Trung Quốc và không có hành động cụ thể nào để chống trả lại sự xâm lấn từ Trung Quốc, dân chúng sẻ xuống đường biểu tình đòi giải thể chính quyền tay sai cho Trung Quốc. Khi đó, họ phải trốn chạy trong tủi nhục.

    3- Khi thấy Việt Nam yếu đuối không đủ sức tự vệ, Trung Quốc có thể xâm chiếm Việt Nam bằng vỏ lực. Bộ Chính Trị có thể bị tiêu diệt trước tiên. Chặt đầu rắn là chiến thuật hay nhất trong chiến tranh. Tiên thủ vi cường.

    4- Trung Quốc có thể xâm lấn và gậm nhấm Việt Nam từ từ cho đến khi Việt Nam hoàn toàn nằm trong lòng bàn tay Trung Quốc. Lúc đó Trung Quốc sẻ vắt chanh bỏ vỏ. Một là Trung Quốc sẻ giết hết đám tay sai của mình để trừ hậu hoạn. Hai là cho cả đám về vườn sau khi đã tướt đoạt hết tài sản của họ.

    5- Kẻ thù nguy hiễm nhất của mình có thể là những người bên cạnh mình. Cho nên, Bộ Chính Trị có thể thanh toán nhau để tranh giành quyền lực.

    6- Con tàu nhỏ Việt Nam tuy đang gặp sóng to gió lớn, Bộ Chính Trị hy vọng mọi chuyện sẻ bình yên trong vòng vài ba năm nửa để họ có thêm thì giờ vơ vét thêm tiền bạc của cải nhiều hơn nửa trước khi hết nhiệm kỳ mặc kệ hiễm họa xâm lăng từ Trung Quốc và kinh tế có sụp đổ hay không.

    Không ai biết chắc được trường hợp nào sẻ xãy ra cho Bộ Chính Trị. Sáu khả năng này như 6 nút của hột xí ngầu. Tuy nhiên, nếu căn cứ trên quá khứ và hiện tại, 3 khả năng đầu rất có thể xãy ra và trường hợp thứ 6 là ít khả năng hơn. Dầu sao thì khả năng tốt cho Bộ Chính Trị là 1/6 và khả năng xấu có thể xãy ra cho Bộ Chính Trị là 5/6. Một người khôn ngoan và không bị lòng tham làm mù quáng sẻ không ngu dại đem hết tiền bạc và tánh mạng mình đặt vào một canh bạc cuối cùng trong khi khả năng thắng là 1/6 và khả năng thua là 5/6. Người khôn ngoan bao giờ cũng biết tự chủ. Khi đã thắng nhiều, họ liền ngưng chơi và bỏ chạy. Chỉ có những người ngu dại và không tự chủ mới tiếp tục chơi bài đễ rồi cuối cùng thua sạch túi. Cho nên, các ông trong Bộ Chính Trị nếu khôn ngoan và tự chủ sẻ quyết định dừng lại. Nếu cứ tiếp tục điều hành đất nước như vầy, họ và cả nước sẻ cùng nhau xuống hố. Khi không thể tiến lên mà cũng không thể thủ thì chỉ còn một nước chót đó là rút lui. Trong tình thế nguy cấp như hiện nay, đã đến lúc Bộ Chính Trị phải làm một quyết định lớn đễ thay đổi vận mạng đất nước dân tộc và cũng như của riêng họ. Đó là dân chủ hóa đất nước. Đây là nguyện vọng khẩn thiết và chính đáng của 80 triệu người Việt Nam ở trong nước và 3 triệu người Việt Nam ở hãi ngoại. Chỉ có con đường dân chủ hóa mới có thể giải quyết được những bài toán mà đảng Cộng Sản Việt Nam không thể giải được. Chẳng hạn, khi Việt Nam được tự do và dân chủ, thì dân tộc được đoàn kết. Khi dân tộc đoàn kết thì mới có thể phát huy nội lực để đủ sức mạnh chống lại ngoại xâm. Chỉ có dân chủ mới có thể chấm dứt đuợc quốc nạn tham nhũng và bất công. Dân chủ sẻ giúp đất nước vượt qua được những khó khăn kinh tế. Người tài đức sẻ được dân bầu lên và những người bất tài thiếu đức sẻ bị nhân dân kéo đầu xuống.

    Người Việt Nam có câu: "lập công để chuộc tội". Nếu Trung Quốc khui ra những chứng cớ phạm tội của Bộ Chính Trị vì Bộ Chính Trị dân chủ hóa đất nước, thì cũng không sao. Bộ Chính Trị hãy thực hiện những điều sau đây thì mọi tội lổi sẻ được dân tộc tha thứ:

    1- Bỏ ngay Điều 4 Hiến Pháp đã cho phép đảng Cộng Sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo đất nước. Bỏ Điều 4 Hiến Pháp không phải là Đảng Cộng Sản Việt Nam tự sát mà là mở con đường sống không những cho Đảng Cộng Sản Việt Nam mà còn cho cả đất nước.

    2- Thả hết các tù nhân chính trị.

    3- Chấp nhận tự do ngôn luận, tự do báo chí,…

    4- Chấp nhận quyền lập đảng.

    5- Giử nguyên quân đội, công an và guồng máy chính quyền

    6- Tổ chức bầu cử tự do trong một thời gian ngắn 3 hay 6 tháng.

    Các ủy viên trong Bộ Chính Trị có thể về hưu ở trong nước hay đi tị nạn chính trị ở ngoại quốc. Họ có thể thêm một điều luật trong Hiến Pháp để bảo vệ họ không bị truy tố về các tội lổi trong quá khứ. Dân tộc Việt Nam sẳn sàng tha thứ mọi tội lổi của họ. Đây mới chính là Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc thật sự và công bằng. Không thể chấp nhận một giải pháp hòa hợp hòa giải khi các ông vẩn ngồi trên đầu mọi người và mọi người phải quỳ phía dưới. Đây rỏ ràng không phải là hòa hợp hòa giải mà là quy hàng. và chắc chắn không thể nào đem đến đoàn kết dân tộc thật sự. Sự thật là thế, Các ông không thể thành công trong việc hòa giải và đoàn kết dân tộc bằng những thủ đoạn gian manh như dụ dổ, lừa dối, hâm dọa, đánh phá, v.v… Các ông phải chấp nhận chân lý và lẻ thường tình thì mới có thể nói chuyện với nhau được.

    Sau 30 năm dưới chế độ độc tài đảng trị, nước Việt Nam của chúng ta đã trở thành một trong những quốc gia nghèo và chậm tiến nhất trên thế giới. Chưa có lúc nào mà hàng trăm ngàn phụ nữ Việt phải đi làm vợ xứ người và hàng trăm ngàn thanh niên Việt phải đi bán sức lao động ở ngoại quốc. Tham nhũng trở thành quốc nạn và vô phương cứu chửa. Bất công xã hội ngày càng gia tăng. Đạo đức suy đồi. Giặc Tàu xâm lấn ngày càng ngang ngược và hiễm họa vong quốc đang hiện ra trước mắt. Nếu đất nước cứ tiếp tục tình trạng này, thì mọi sự sẻ càng trở nên tồi tệ hơn. Bởi vậy, để tránh họa mất nước, Việt Nam cần phải có một thay đổi lớn và ngay lập tức trước khi mọi sự đã quá trể. Thay đổi lớn đó là Dân Chủ Hóa Việt Nam. Nếu làm được vậy, Việt Nam sẻ thoát khỏi họa diệt vong và sẻ trở thành một cường quốc. Nước mạnh, dân giàu, xả hội công bằng bác ái chỉ đạt được khi có tự do và dân chủ mà thôi. Chúng tôi mong rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam bình tâm lại và can đãm làm một quyết định thay đổi vận mạng đất nước. Hãy chiến thắng tính tự cao tự đại và lòng tham quyền cố vị đễ trở về với dân tộc và chuyển hướng đất nước từ chổ chết sang chổ sống. Nếu làm được vậy, các vị có thể được xem là anh hùng của dân tộc Việt Nam.

    Lời nói của Trần Bình Trọng, một vị anh hùng của dân tộc Việt Nam vẩn còn văng vẳng đâu đây:

    Ta Thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc.

    Cầu xin Hồn Thiêng Sông Núi Việt Nam hãy phò hộ Việt Nam một lần nửa thoát khỏi họa xâm lăng từ Phương Bắc.

    Một người đưa tin của Hồn Thiêng Sông Núi Việt Nam.

    (Xin chuyển tin này đến mọi người)

    Ha noi
    2008-12-21 09:28:25

    www.thongluan.org

    Trả lờiXóa
  29. Nặc danh9/1/09 13:28

    DANG CSVN HEN` NHAT' VA` BAN'
    NUOC':

    http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3754/t19232.htm

    International Recognition Of China's Sovereignty over the Nansha Islands

    2000/11/17




    A. Many countries, world public opinions and publications of other countries recognize the Nansha Islands as Chinese territory.

    1. The United Kingdom of Great Britain and the Northern Island

    a) China Sea Pilot compiled and printed by the Hydrography Department of the Royal Navy of the United Kingdom in 1912 has accounts of the activities of the Chinese people on the Nansha Islands in a number of places.

    b) The Far Eastern Economic Review (Hong Kong) carried an article on Dec. 31 of 1973 which quotes the British High Commissioner to Singapore as having said in 1970: "Spratly Island (Nanwei Island in Chinese) was a Chinese dependency, part of Kwangtung Province? and was returned to China after the war. We can not find any indication of its having been acquired by any other country and so can only conclude it is still held by communist China."

    2. France

    a) Le Monde Colonial Illustre mentioned the Nansha Islands in its September 1933 issue. According to that issue, when a French gunboat named Malicieuse surveyed the Nanwei Island of the Nansha Islands in 1930, they saw three Chinese on the island and when France invaded nine of the Nansha Islands by force in April 1933, they found all the people on the islands were Chinese, with 7 Chinese on the Nanzi Reef, 5 on the Zhongye Island, 4 on the Nanwei Island, thatched houses, water wells and holy statues left by Chinese on the Nanyue Island and a signboard with Chinese characters marking a grain storage on the Taiping Island.

    b) Atlas International Larousse published in 1965 in France marks the Xisha, Nansha and Dongsha Islands by their Chinese names and gives clear indication of their ownership as China in brackets.

    3) Japan

    a) Yearbook of New China published in Japan in 1966 describes the coastline of China as 11 thousand kilometers long from Liaodong Peninsula in the north to the Nansha Islands in the south, or 20 thousand kilometers if including the coastlines of all the islands along its coast;

    b) Yearbook of the World published in Japan in 1972 says that Chinese territory includes not only the mainland, but also Hainan Island, Taiwan, Penghu Islands as well as the Dongsha, Xisha, Zhongsha and Nansha Islands on the South China Sea.

    4. The United States

    a) Columbia Lippincott World Toponymic Dictionary published in the United States in 1961 states that the Nansha Islands on the South China Sea are part of Guangdong Province and belong to China.

    b) The Worldmark Encyclopaedia of the Nations published in the United States in 1963 says that the islands of the People's Republic extend southward to include those isles and coral reefs on the South China Sea at the north latitude 4°.

    c) World Administrative Divisions Encyclopaedia published in 1971 says that the People's Republic has a number of archipelagoes, including Hainan Island near the South China Sea, which is the largest, and a few others on the South China Sea extending to as far as the north latitude 4°, such as the Dongsha, Xisha, Zhongsha and Nansha Islands.

    5. Viet Nam

    a) Vice Foreign Minister Dung Van Khiem of the Democratic Republic of Viet Nam received Mr. Li Zhimin, charge d'affaires ad interim of the Chinese Embassy in Viet Nam and told him that "according to Vietnamese data, the Xisha and Nansha Islands are historically part of Chinese territory." Mr. Le Doc, Acting Director of the Asian Department of the Vietnamese Foreign Ministry, who was present then, added that "judging from history, these islands were already part of China at the time of the Song Dynasty."

    b) Nhan Dan of Viet Nam reported in great detail on September 6, 1958 the Chinese Government's Declaration of September 4, 1958 that the breadth of the territorial sea of the People's Republic of China should be 12 nautical miles and that this provision should apply to all territories of the People's Republic of China, including all islands on the South China Sea. On September 14 the same year, Premier Pham Van Dong of the Vietnamese Government solemnly stated in his note to Premier Zhou Enlai that Viet Nam "recognizes and supports the Declaration of the Government of the People's Republic of China on China's territorial sea."

    c) It is stated in the lesson The People's Republic of China of a standard Vietnamese school textbook on geography published in 1974 that the islands from the Nansha and Xisha Islands to Hainan Island and Taiwan constitute a great wall for the defense of the mainland of China.

    B. The maps printed by other countries in the world that mark the islands on the South China Sea as part of Chinese territory include:

    1. The Welt-Atlas published by the Federal Republic of Germany in 1954, 1961 and 1970 respectively;

    2. World Atlas published by the Soviet Union in 1954 and 1967 respectively;

    3. World Atlas published by Romania in 1957;

    4. Oxford Australian Atlas and Philips Record Atlas published by Britain in 1957 and Encyclopaedia Britannica World Atlas published by Britain in 1958;

    5. World Atlas drawn and printed by the mapping unit of the Headquarters of the General Staff of the People's Army of Viet Nam in 1960;

    6. Haack Welt Atlas published by German Democratic in 1968;

    7. Daily Telegraph World Atlas published by Britain in 1968;

    8. Atlas International Larousse published by France in 1968 and 1969 respectively;

    9. World Map Ordinary published by the Institut Geographique National (IGN) of France in 1968;

    10. World Atlas published by the Surveying and Mapping Bureau of the Prime Minister's Office of Viet Nam in 1972; and

    11. China Atlas published by Neibonsya of Japan in 1973.

    C. China's sovereignty over the Nansha Islands is recognized in numerous international conferences.

    1. The 1951 San Francisco Conference on Peace Treaty called on Japan to give up the Xisha and Nansha Islands. Andrei Gromyko, Head of the Delegation of the Soviet Union to the Conference, pointed out in his statement that the Xisha and Nansha Islands were an inalienable part of Chinese territory. It is true that the San Francisco Peace Treaty failed to unambiguously ask Japan to restore the Xisha and Nansha Islands to China. But the Xisha, Nansha, Dongsha and Zhongsha Islands that Japan was asked to abandun by the Peace Agreement of San Francisco Conference were all clearly marked as Chinese territory in the fifteenth map A Map of Southeast Asia of the Standard World Atlas published by Japan in 1952, the second year after the peace conference in San Francisco, which was recommended by the then Japanese Foreign Minister Katsuo Okazaki in his own handwriting.

    2. The International Civil Aviation Organization held its first conference on Asia-Pacific regional aviation in Manila of the Philippines on 27 October 1955. Sixteen countries or regions were represented at the conference, including South Viet Nam and the Taiwan authorities, apart from Australia, Canada, Chile, Dominica, Japan, the Laos, the Republic of Korea, the Philippines, Thailand, the United Kingdom, the United States, New Zealand and France. The Chief Representative of the Philippines served as Chairman of the conference and the Chief Representative of France its first Vice Chairman. It was agreed at the conference that the Dongsha, Xisha and Nansha Islands on the South China Sea were located at the communication hub of the Pacific and therefore the meteorological reports of these islands were vital to world civil aviation service. In this context, the conference adopted Resolution No. 24, asking China's Taiwan authorities to improve meteorological observation on the Nansha Islands, four times a day. When this resolution was put for voting, all the representatives, including those of the Philippines and the South Viet Nam, were for it. No representative at the conference made any objection to or reservation about it.

    Trả lờiXóa

NỘI QUY KHI BÌNH LUẬN :
» Không sử dụng những từ ngữ thô tục, thiếu văn hoá
» Không Spam. Được chém gió thoải mái
» Hãy viết bằng tiếng Việt có dấu để mọi người dễ đọc
» Nếu chèn code hãy mã hóa trước khi chèn vào nhận xét.
» Chèn link bằng thẻ: <a href="Link" rel="nofollow">Tên</a>
» Tạo chữ <b>đậm<b> và <I>Ngiêng<I>
» Mọi thắc mắc xin liên hệ qua Email,

Cảm ơn bạn đã để lại nhận xét!

Top